Đánh giá trước khi trị liệu căng da mặt với chất làm đầy

Đánh giá trước khi trị liệu căng da mặt với chất làm đầy

Tác giả: Kyle K. Seo

nhathuocngocanh.com – Bài viết Đánh giá trước khi trị liệu căng da mặt với chất làm đầy được trích trong chương 1 trong sách Căng Da Mặt Với Chất Làm Đầy.

Giới thiệu

Như với tất cả các quy trình thẩm mỹ khác, quy trình tiêm chất làm đầy khuôn mặt không thể chỉ sử dụng một phương pháp tiếp cận riêng lẻ. Để có được kết quả điều trị tỉ mỉ, việc đầu tiên là đánh giá chi tiết khuôn mặt của từng cá nhân. Dựa trên cơ sở đó, một chiến lược điều trị phù hợp với nhu cầu riêng của từng bệnh nhân được thiết lập. Các yếu tố được xem xét trong quá trình đánh giá này chủ yếu bao gồm đánh giá chủ quan và khách quan của khuôn mặt. Các khía cạnh liên quan khác bao gồm môi trường văn hóa xã hội của bệnh nhân, sở thích thẩm mỹ dân tộc và các đặc điểm giới tính cụ thể cũng cần được xem xét. Chương này phác thảo các phương pháp tiếp cận để xác định mong muốn thẩm mỹ chủ quan của bệnh nhân và các bước thực hiện đánh giá khách quan khuôn mặt của bệnh nhân, bao gồm đánh giá hình dạng khuôn mặt, những thay đổi liên quan đến lão hóa, đối xứng khuôn mặt, tỷ lệ cân đối tổng thể, xem từng chi tiết cụ thể của khuôn mặt và các biểu cảm trên khuôn mặt. Trên cơ sở này, các trang tiếp theo giải thích cách lập một kế hoạch điều trị cá nhân, đồng thời xem xét toàn diện các yếu tố liên quan khác như tiền sử y tế về các can thiệp thẩm mỹ, điều kiện kinh tế xã hội, lý tưởng thẩm mỹ dân tộc, sự khác biệt dựa trên giới tính và cân nhắc ngân sách của bệnh nhân.

Đánh giá cá nhân

Trong quá trình đánh giá trước điều trị, điều quan trọng là phải thiết lập các yếu tố liên quan có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Các yếu tố đó bao gồm yếu tổ chủ quan, khách quan, văn hóa xã hội, và điều kiện tài chính cũng như tiền sử y tế thẩm mỹ của bệnh nhân. Điều trị cá nhân có nghĩa là các chiến lược điều trị khác nhau được thực hiện cho các nhu cầu khác nhau của từng bệnh nhân theo từng yếu tố trên.

Các yếu tố chủ quan

Với bản chất chủ quan của vẻ đẹp, điều quan trọng đầu tiên và quan trọng nhất là xác định chính xác những gì mà cá nhân bệnh nhân muốn thẩm mỹ trên khuôn mặt của họ. Nói cách khác, cần phải làm rõ mục tiêu điều trị chính của bệnh nhân và đảm bảo rằng cả bệnh nhân và bác sĩ đều thống nhất về mục tiêu thẩm mỹ này. Một số bệnh nhân có thể trình bày rõ ràng cụ thể rằng họ muốn thẩm mỹ chính xác những nếp nhăn cụ thể nào, nhưng một số người khác lại trình bày rất mơ hồ những yêu cầu của họ ví dụ như họ muốn trông trẻ trung hơn hoặc làn da mềm mại. Trong trường hợp này, bác sĩ nên có những câu hỏi tìm hiểu sâu hơn và khuyến khích bệnh nhân nêu rõ các ưu tiên điều trị của họ bằng các thuật ngữ chính xác hơn. Điều này sẽ tránh được trường hợp bệnh nhân sẽ không hài lòng với kết quả điều trị khi kết thúc quy trình trị liệu bởi vì những yêu cầu ban đầu của họ chưa được giải quyết thỏa đáng ngay cả khi các khía cạnh khác đã được cải thiện tích cực. Vì vậy, theo kinh nghiệm của tôi, tôi thường cầm một chiếc gương cho bệnh nhân và yêu cầu họ xác định chính xác điều gì khiến họ khó chịu về khuôn mặt của họ (Hình 1.1a). “Tư vấn qua gương” như vậy có ưu điểm là không chỉ giúp bệnh nhân nhận rõ (các) khiếm khuyết của bản thân một cách chi tiết hơn mà còn giúp họ nhận ra mọi vấn đề mà trước đây họ có thể lơ là chưa nhận ra và khuyến khích họ tìm kiếm giải pháp thẩm mỹ thích hợp. Hơn nữa, áp dụng thử nghiệm căng da hoặc thử nghiệm ép da ở giai đoạn này có thể giúp bệnh nhân hình dung thêm về kết quả mong đợi sau điều trị (Hình 1.1b).

Sau khi xác định các yêu cầu ưu tiên điều trị, bước tiếp theo là kiểm soát kỳ vọng của bệnh nhân về kết quả điều trị. Điều này rất quan trọng đối với kết quả tối ưu của bệnh nhân vì nhiều bệnh nhân có kỳ vọng không thực tế hoặc các tiêu chuẩn khắt khe rất có thể không hài lòng với kết quả cho dù nó có thực sự tốt đi nữa. Thật vậy, ‘kiểm soát kỳ vọng’ là một nghiên cứu được thành lập trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, theo đó sự hài lòng của khách hàng đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ được cho là tỷ lệ nghịch với mức độ kỳ vọng của họ. Điều này có nghĩa là, dù hàng hoá hoặc dịch vụ liên quan đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng yêu cầu thì cũng không thể thoả mãn các khách hàng có mức kỳ vọng quá cao. Trong các quy trình thẩm mỹ như điều trị bằng tiêm chất làm đầy, thông tin chính xác về kết quả mong đợi là chìa khóa tuyệt đối để kiểm soát kỳ vọng của bệnh nhân ở mức độ mà bác sĩ có thể đạt được. Về vấn đề này, điều cần thiết đầu tiên và quan trọng nhất là phải xác định được những gì mà bác sĩ có thể thực hiện được hoặc không thực hiện được khi tiêm chất làm đầy, để những bệnh nhân có kỳ vọng không thực tế có thể được hướng dẫn phù hợp. Ví dụ, bệnh nhân nên được tư vấn trước rằng việc làm đầy rãnh lệ có thể không mang lại nhiều lợi ích trong trường hợp bọng mắt sưng xuất hiện phía trên rãnh lệ. Về mặt này, trình bày bằng hình ảnh là phương pháp hiệu quả nhất cho đến nay để kiểm soát kỳ vọng của bệnh nhân. Dù các thiết bị hình ảnh 3D tinh vi như Vectra có thể được sử dụng để giúp bệnh nhân hình dung họ trông như thế nào sau khi điều trị, nhưng nếu không có thiết bị này, có thể sử dụng gương như một phương pháp đơn giản để mô phỏng kết quả sau phẫu thuật. Có thể thực hiện một số kiểm trả hữu ích hoặc thao tác kiểm tra trong quá trình soi gương để giúp bệnh nhân thấy trước kết quả, chẳng hạn như “kiểm tra căng da” đối với các nếp nhăn sâu giữa lông mày hoặc bằng cách đẩy lớp mỡ xương gò má trước lên để xem liệu nó có điều chỉnh rãnh lệ mắt hay không.

Hình 1.1 (a) Tư vấn qua gương, (b) Bệnh nhân 72 tuổi với bọng mắt lồi và rãnh lệ được cho thấy kết quả mô phỏng sau khi tiêm chất làm đầy thông qua "tư vấn qua gương"
Hình 1.1 (a) Tư vấn qua gương, (b) Bệnh nhân 72 tuổi với bọng mắt lồi và rãnh lệ được cho thấy kết quả mô phỏng sau khi tiêm chất làm đầy thông qua “tư vấn qua gương”

Bộ phim: Đôi mắt rực rỡ

Nếu bạn cho rằng botox và chất làm đầy chỉ đơn giản là bảo bối của những người già, thì bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng trong những năm qua, càng ngày càng có nhiều người trẻ ở độ tuổi 20 và 30 lựa chọn các phương pháp điều trị này với vai trò “điều trị nếp nhăn”. Ban đầu được phát triển như các phương pháp điều trị chống nếp nhăn, botox và chất làm đầy hiện đã phát triển vượt ra ngoài chỉ định ban đầu và trở thành công cụ khả thi cho mục đích làm đẹp da mặt. Các ví dụ điển hình bao gồm giảm khối lượng bằng botox để làm thon gọn khuôn mặt và sử dụng chất làm đầy để định hình lại và sửa mũi, môi và cằm. Thay vì nhằm mục đích chống lại các dấu hiệu lão hóa, các phương pháp điều trị này tập trung vào việc cải thiện thẩm mỹ và tối ưu hóa các sai lệch cấu trúc bẩm sinh của khuôn mặt và cơ thể, vì vậy, tôi cho rằng luôn có một thị trường sẵn sàng cho mọi đối tượng ở mọi lứa tuổi.

Một điều hiển nhiên là độ tuổi bắt đầu tái tạo nếp nhăn đã được hạ xuống vào khoảng tầm gần 30 tuổi hoặc ngoài 30 tuổi một chút cũng giải thích tại sao thị trường botox và chất làm đầy ngày càng trẻ hóa. Liên quan đến tiêm botox, chúng không chỉ đóng vai trò là một biện pháp khắc phục nhanh các nếp nhăn do biểu cảm mà khi áp dụng điều trị nhiều lần cũng mang lại lợi ích lâu dài như giữ cho khuôn mặt ít nếp nhăn hơn. Điều này đã được chứng minh trên toàn thế giới cách đây khoảng 10 năm. Trên thực tế, bạn nên bắt đầu phương pháp điều trị bằng botox càng trẻ càng tốt. Vì làn da trẻ có độ đàn hồi cao tự nhiên, các nếp nhăn trên khuôn mặt trẻ có thể được giải quyết thành công chỉ bằng botox. Tuy nhiên, khi bạn bước qua tuổi 60 và 70, các nếp nhăn do biểu cảm sẽ trở thành những nếp nhăn tĩnh sâu vĩnh viễn trên khuôn mặt như những vết sẹo. Khuôn mặt lão hóa cũng bị suy giảm thể tích và tổn thương mô mềm. Tất cả các vấn đề trên đều không thể được giải quyết thỏa đáng chỉ với việc sử dụng botox. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, tôi gặp những bệnh bệnh nhân ở độ tuổi 40 và 50 đến để được tư vấn về chống nếp nhăn và thậm chí sau khi nghe tôi giải thích đầy đủ, họ vẫn từ chối tiêm botox.

Có thể hiểu, lần đầu tiên thực hiện một thủ thuật thẩm mỹ có thể có cảm giác khó chịu. Hiển nhiên là, người ta khó mà tưởng tượng được hình ảnh gương mặt được tiêm độc tố, ở đây là botox, hay một vật liệu lạ khác, tức là chất làm đầy. Một số người có thể cảm thấy không thoải mái về viễn cảnh phải phụ thuộc vào botox và chất làm đầy trong suốt phần đời còn lại của họ, do tính chất tạm thời của những loại thuốc tiêm này và băn khoăn rằng liệu họ có nên bắt đầu tiêm khi còn trẻ hay không. Tuy nhiên, đối với những người từ chối tiêm botox vì những lý do mơ hồ này mà không phải vì cân nhắc tài chính, tôi chỉ cười và khuyên họ “Hãy bắt đầu khi bạn vẫn còn trẻ và đẹp. Tại sao phải chờ đợi cho đến khi bạn trở thành một bà cụ? “

Cá nhân mà nói, tôi đang ở giai đoạn đó trong cuộc đời không trẻ không già. Mặc dù vậy, nếu tôi khôn ngoan hơn, tôi sẽ nhận ra giá trị của cuộc sống cho ngày hôm nay. Như một câu ngạn ngữ cổ của Hàn Quốc, loại cỏ đỏ ngon nhất không thể tồn tại quá 10 ngày và ngay cả một con châu chấu cũng có mùa riêng của nó. Đó là một thực tế đơn giản của cuộc sống, giống như mặt trăng mọc rồi lại lặn, hoa nở rồi tàn, không có gì tồn tại mãi mãi kể cả tuổi trẻ và vẻ đẹp thoáng qua của chúng ta. Dù chúng ta vẫn thường nói khoa trương với nhau rằng hãy chấp nhận các nếp nhăn đi bởi chúng là “huy chương của cuộc đời chúng ta”; nhưng mong muốn cơ bản của con người là trẻ mãi và xinh đẹp nếu có thể. Mặc dù chúng ta có thể không bao giờ lấy lại được vẻ tươi tắn của tuổi niên thiếu như những chiếc lá mùa xuân xanh tươi hoặc khôi phục lại vẻ đằm thắm của tuổi đôi mươi như một bông hoa đang nở rộ, tuy nhiên, những tiến bộ trong y học hiện đại đã mang lại cho chúng ta điều tuyệt vời nhất. Đó là khả năng tiếp tục trông đẹp nhất và vẫn thanh lịch nhất ngay cả ở độ tuổi 40 và 50, với sự bảo trì và bảo dưỡng thích hợp.

Giải thưởng Baeksang Arts Awards cho Phim truyền hình Hàn Quốc hay nhất năm nay được trao cho Kim Hye Ja để vinh danh diễn xuất ấn tượng và biến hóa của cô trong bộ phim truyền hình “Đôi mắt rực rỡ”, trong đó cô đóng vai một phụ nữ trẻ ở độ tuổi 20 đột nhiên tìm thấy chính mình khi già. Diễn xuất đặc biệt của Kim, vượt qua mọi thế hệ để thể hiện cả sự ngây thơ ngọt ngào của một cô gái 20 và sự điềm đạm của một người phụ nữ lớn tuổi, kết hợp với một kịch bản xuất sắc mang một kết thúc bất ngờ lớn, đã đưa bộ phim trở thành một bộ phim đình đám với mức rating cao nhất là 9,7 %. Bộ phim giả tưởng về một phụ nữ trẻ đột nhiên bị biến thành một người già do một số tình huống khó giải thích đã cướp đi toàn bộ thời gian của cô ấy; nhưng hóa ra toàn bộ câu chuyện là do một người phụ nữ già đang mắc bệnh Alzheimer kể lại. Bộ phim làm sáng tỏ sự quý giá của thời gian và cuộc sống, và một câu thoại từ tập cuối cùng đã gây được tiếng vang đặc biệt với nhiều người; “Đừng để những hối tiếc của ngày hôm qua hoặc những điều không chắc chắn của ngày mai làm hỏng hiện tại của bạn. Sống cho hôm nay. Hãy để đôi mắt bạn luôn rực rỡ. Đây là thời điểm để bạn tỏa sáng. Bạn xứng đáng không kém gì ai”. Và đó chính xác là những gì tôi nhắc nhở bản thân mình vào chính thời điểm này. Cầu mong những lời triết lý nhân sinh đó hướng dẫn chúng ta cả trong cuộc sống và xóa bỏ những nếp nhăn của chúng ta. Carpe diem (tháng 5, 2019).

Yếu tố khách quan

Đánh giá khách quan về khuôn mặt của bệnh nhân bao gồm đánh giá toàn diện về các yếu tố sinh học của bệnh nhân như giới tính và tuổi tác, cũng như mức độ lão hóa trên khuôn mặt được biểu hiện bằng sự thiếu liên tục của các đường nét trên khu-ôn mặt, đặc điểm của các đường nét và nếp nhăn trên khuôn mặt, khả năng hiển thị lỗ chân lông, giảm thể tích khuôn mặt và chảy xệ, và độ dày và độ đàn hồi của da, và các yếu tố khác. Cũng như tất cả các phương pháp điều trị y tế khác, điều cần thiết là phải xác định chính xác vấn đề trước khi tìm ra giải pháp phù hợp, vì chẩn đoán chính xác là bước đầu tiên để đạt được kết quả thẩm mỹ thành công sau phẫu thuật. Do đó, trước khi thực hiện thủ thuật tiêm chất làm đầy, mỗi khuôn mặt nên được đánh giá riêng lẻ để xác định các đặc điểm và sự thay đổi lão hóa cụ thể trên khuôn mặt của bệnh nhân. Trên cơ sở này, cần xác định xem liệu bệnh nhân có phải là đối tượng thích hợp để điều trị bằng chất làm đầy hay không, liệu quy trình có thể không phá vỡ sự cân bằng với phần còn lại của khuôn mặt hay không và liệu có nên xem xét việc kết hợp với các phương thức điều trị khác hay không. Ví dụ, các nếp nhăn sâu giữa hai lông mày không thể được xóa triệt để chỉ với chất làm đầy HA mà thay vào đó, cần sử dụng thêm chất BoNT-A. Tương tự như vậy, má hóp bên cạnh nếp gấp vòm mũi cần được lấp đầy đồng thời trong quá trình chỉnh sửa nếp gấp rãnh mũi má đối với những bệnh nhân có má hóp nghiêm trọng, để tạo ra sự chuyển tiếp đồng bộ giữa các đơn vị giải phẫu liền kề này.

Biểu đồ đánh giá khuôn mặt

Như đã minh họa, việc đánh giá kỹ lưỡng và chính xác khuôn mặt của bệnh nhân là bước đầu tiên trong hướng dẫn kỹ thuật tiêm chất làm đầy để mang lại kết quả điều trị như ý muốn. Vì vậy, hướng dẫn từng bước để phân tích khuôn mặt có thể giúp đảm bảo rằng tất cả các yếu tố khách quan cần thiết được xem xét một cách tuần tự. Biểu đồ trong Hình 1.2 đã minh họa trực quan về các bước liên quan sẽ được thực hiện. Bước đầu tiên của đánh giá khuôn mặt cá nhân bao gồm phân tích hình dạng khuôn mặt. Với hình dạng khuôn mặt hình trái xoan được coi là lý tưởng thẩm mỹ, các hình dạng khuôn mặt được phân thành bảy loại, bao gồm hình tròn, hình trái xoan, hình vuông, hình ngũ giác, hình thuôn, hình chữ nhật, và hình tam giác ngược (Hình 1.3). Sau khi định dạng khuôn mặt, bước tiếp theo là xây dựng chiến lược thẩm mỹ để đưa khuôn mặt càng giống hình trái xoan càng tốt. Đối với khuôn mặt vuông, ngũ giác, chữ nhật và mặt tròn, cơ cắn và cơ thái dương là nguyên nhân cơ bản, nên điều trị kết hợp với BoNT-A để giảm chiều rộng khuôn mặt.

Hình. 1.2 Biểu đồ đánh giá khuôn mặt
Hình. 1.2 Biểu đồ đánh giá khuôn mặt

Hình. 1.3 (tiếp).

Hình. 1.3 (tiếp).
Hình. 1.3 (tiếp).

Trong khi đó, ở những khuôn mặt có gò má rõ rệt, mà xương gò má không thể giảm đi qua việc tiêm chất làm đầy, nên phục hồi thể tích đồng thời ở hõm thái dương và hõm má bên để làm giảm trực quan điểm nhấn vào gò má bằng cách làm hài hòa các đường viền mặt trên, dưới và hai bên (Hình 1.4). Việc tạo khối cho gò má và má hóp đối với khuôn mặt hình chữ nhật hoặc tam giác ngược không chỉ giúp khuôn mặt giống hình trái xoan hơn mà còn tạo cảm giác về chiều dài khuôn mặt ngắn hơn bằng cách tăng thêm chiều rộng khuôn mặt. Ngược lại, nâng cằm cho khuôn mặt tròn hoặc vuông có tác dụng làm thon gọn khuôn mặt và giúp khuôn mặt giống hình trái xoan lý tưởng hơn bằng cách tăng thêm chiều dài khuôn mặt (Hình 1.5). Trong khi đánh giá hình dạng khuôn mặt, việc xem xét kích thước của khuôn mặt cũng rất cần thiết. Những bệnh nhân có khuôn mặt to bẩm sinh chỉ nên tiêm một lượng vừa phải vì các thủ thuật tiêm chất làm đầy chủ yếu để tăng thêm thể tích cho khuôn mặt.

Hình 1.4 Bệnh nhân với gò má rõ rệt có thể được chỉnh sửa bằng cách đồng thời phục hồi thể tích ở hõm thái dương và hõm má bên nhờ tận dụng ảo ảnh quang học.
Hình 1.4 Bệnh nhân với gò má rõ rệt có thể được chỉnh sửa bằng cách đồng thời phục hồi thể tích ở hõm thái dương và hõm má bên nhờ tận dụng ảo ảnh quang học.

Bước thứ hai liên quan đến việc đánh giá những thay đổi lão hóa hiện trên khuôn mặt của bệnh nhân, bao gồm sự xuất hiện và mức độ của nếp nhăn trên khuôn mặt, chảy xệ và chùng nhão, và khối mỡ trên khuôn mặt (Hình 1.6). Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng này, có thể điều trị kết hợp với các thủ tục hỗ trợ khác. Ví dụ, ở những bệnh nhân có mỡ hàm dưới má rõ rệt và chảy xệ, nếu chỉ thực hiện mỗi phương pháp chỉnh sửa thể tích của má hóp có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nặng nề của mỡ hàm dưới má. Trong trường hợp này, cần cân nhắc sử dụng hỗ trợ nâng bằng chỉ hoặc các thiết bị năng lượng như sóng siêu âm hội tụ cường độ cao (HIFU) hoặc tiêm giảm mỡ để nâng và làm căng da mặt chảy xệ (Bảng 1.1). Đồng thời, những bệnh nhân có túi dưới mắt cần chỉnh sửa rãnh lệ cũng nên thực hiện phẫu thuật loại bỏ mỡ vùng dưới hốc mắt bị chảy sệ để có kết quả tối ưu.

Hình 1.5 Kéo dài cằm bằng tiêm chất làm đầy giúp khuôn mặt chữ U thon gọn hơn thành khuôn mặt chữ V.
Hình 1.5 Kéo dài cằm bằng tiêm chất làm đầy giúp khuôn mặt chữ U thon gọn hơn thành khuôn mặt chữ V.

Hình 1.6 Kiểu lão hóa ở khuôn mặt (a) hình trái xoan và (b) hình ngũ giác

Hình 1.6 Kiểu lão hóa ở khuôn mặt (a) hình trái xoan và (b) hình ngũ giác
Hình 1.6 Kiểu lão hóa ở khuôn mặt (a) hình trái xoan và (b) hình ngũ giác

Bảng 1.1 Khuyến nghị điều trị cho khuôn mặt vuông tùy thuộc vào kiểu lão hóa

Chùng nhão Chảy xệ Tích tụ chất béo Khuyến nghị điều trị
Vuông Không Không Không FC_BoNT_A
Vuông Không Không FC_BoNT_A, FRI hoặc hút mỡ
Vuông Không Không FC_BoNT_A, HIFU hoặc nâng bằng chỉ
Vuông Không FC_BoNT_A, FRI, HIFU hoặc nâng bằng chỉ
Vuông Không Không FC_BoNT_A, chất làm đầy
Vuông Không FC_BoNT_A, chất làm đầy, FRI, (HIFU hoặc nâng chỉ)
Vuông Không FC_BoNT_A, chất làm đầy, HIFU hoặc nâng chỉ
Vuông FC_BoNT_A, chất làm đầy, FRI, HIFU, nâng chỉ

FC_BoNT_A tạo hình khuôn mặt bằng cách sử dụng độc tố botulinum, tiêm giảm béo FRI, sóng siêu âm hội tụ cường độ cao HIFU

Trong bước thứ ba, nên xem xét đến sự cân xứng của khuôn mặt. Sự bất đối xứng nhẹ phổ biến ở hầu hết mọi người và thậm chí có thể góp phần làm cho khuôn mặt trông tự nhiên hơn. Điều đó cho thấy rằng, những người có khuôn mặt bất đối xứng rõ ràng cần được điều trị y tế đầy đủ, vì sự khác biệt như vậy có thể gây khó chịu về mặt thẩm mỹ. Trong khi việc chỉnh sửa dứt điểm đòi hỏi chỉnh nha hoặc thậm chí can thiệp phẫu thuật bao gồm phẫu thuật hàm trên và hàm dưới trong những trường hợp nghiêm trọng, tình trạng này của bệnh nhân cũng có thể được cải thiện từ những phương pháp thẩm mỹ vừa phải như tiêm chất làm đầy. Tại đây, các chất làm đầy có thể được tiêm một cách chiến lược để làm tăng phần yếu hơn của khuôn mặt và điều chỉnh lại hàm trên / hàm dưới để nằm gần đường giữa khuôn mặt hơn (Hình 1.7).

Bước thứ tư liên quan đến cân bằng khuôn mặt. Khi nói đến thẩm mỹ khuôn mặt, thẩm mỹ tổng thể khuôn mặt quan trọng hơn từng bộ phận của nó. Một khuôn mặt với đôi mắt, chiếc mũi và khuôn miệng ấn tượng và nổi bật nhất có thể làm mất đi vẻ đẹp tổng thể nếu chúng không hài hòa với nhau. Chính vì lý do này mà cần có các đánh giá liên quan đến kích thước và vị trí tương đối của từng đặc điểm trên khuôn mặt và sự tương xứng của đường nét trên khuôn mặt để xác định sự cân đối và tỷ lệ tổng thể của khuôn mặt. Ví dụ, một khu-ôn mặt có khuôn miệng nhỏ không cân xứng, như trong hình, có xu hướng trông kỳ quặc và mất cân đối (Hình 1.8). Hơn nữa, ngay cả khi kích thước và hình dạng của các đặc điểm riêng lẻ đã đủ hấp dẫn, nếu cố gắng làm cân bằng vị trí tương đối của chúng bằng cách thu hẹp khoảng cách giữa hai mắt hoặc kéo dài nhân trung, thì điều này cũng có thể làm giảm sức hấp dẫn cho khuôn mặt (Hình 1.8). Hơn nữa, ngay cả khi kích thước và hình dạng của các đặc điểm riêng lẻ đã đủ hấp dẫn, nếu cố gắng làm cân bằng vị trí tương đối của chúng bằng cách thu hẹp khoảng cách giữa hai mắt hoặc kéo dài nhân trung, thì điều này cũng có thể làm giảm sức hấp dẫn cho khu-ôn mặt (Hình 1.9). Tỷ lệ cân đối cũng rất quan trọng trong việc đánh giá đường nét trên khuôn mặt. Thay đổi tỷ lệ của đường viền khuôn mặt bằng cách thu hẹp chiều rộng của trán hoặc cằm, hoặc mở rộng chiều rộng của khuôn mặt có thể làm biến dạng khuôn mặt và khiến nó mất đi chất lượng tương xứng, ngay cả khi kích thước và vị trí của các đặc điểm riêng lẻ vẫn còn nguyên vẹn (Hình 1.10).

Hình 1.7 Sự bất cân xứng trên khuôn mặt có thể được cải thiện bằng cách tiêm chất làm đầy. (a) Trước và (b) sau khi làm tiêm chất làm đầy.
Hình 1.7 Sự bất cân xứng trên khuôn mặt có thể được cải thiện bằng cách tiêm chất làm đầy. (a) Trước và (b) sau khi làm tiêm chất làm đầy.
Hình 1.8 Một khuôn mặt có khuôn miệng nhỏ không cân xứng, như trong hình, có xu hướng trông kỳ quặc và mất cân đối
Hình 1.8 Một khuôn mặt có khuôn miệng nhỏ không cân xứng, như trong hình, có xu hướng trông kỳ quặc và mất cân đối
Hình 1.9 Sự mất cân đối của các vị trí giữa từng bộ phận trên khuôn mặt có thể làm giảm sức hấp dẫn trên khuôn mặt.
Hình 1.9 Sự mất cân đối của các vị trí giữa từng bộ phận trên khuôn mặt có thể làm giảm sức hấp dẫn trên khuôn mặt.
Hình 1.10 Tỷ lệ cân đối cũng rất quan trọng đối với đường nét trên khuôn mặt. Thay đổi tỷ lệ của đường viền khuôn mặt bằng cách thu hẹp chiều rộng của trán hoặc cằm, hoặc mở rộng khoảng cách hai gò má, có thể làm biến dạng khuôn mặt và khiến khuôn mặt mất đi chất lượng tương xứng, ngay cả khi kích thước và vị trí của các đặc điểm riêng lẻ vẫn còn nguyên vẹn
Hình 1.10 Tỷ lệ cân đối cũng rất quan trọng đối với đường nét trên khuôn mặt. Thay đổi tỷ lệ của đường viền khuôn mặt bằng cách thu hẹp chiều rộng của trán hoặc cằm, hoặc mở rộng khoảng cách hai gò má, có thể làm biến dạng khuôn mặt và khiến khuôn mặt mất đi chất lượng tương xứng, ngay cả khi kích thước và vị trí của các đặc điểm riêng lẻ vẫn còn nguyên vẹn
Hình 1.11 Cằm thụt vào có thể được chẩn đoán chính xác hơn bằng (a) nhìn chính diện và (b) nhìn nghiêng.
Hình 1.11 Cằm thụt vào có thể được chẩn đoán chính xác hơn bằng (a) nhìn chính diện và (b) nhìn nghiêng.

Trong bước thứ năm, khuôn mặt phải được đánh giá từ ảnh chụp hồ sơ. Góc nghiêng của khuôn mặt đặc biệt quan trọng trước khi nâng trán, mũi, môi và cằm, vì nó cho cái nhìn rõ nhất về độ nghiêng của trán dồ, mũi gãy, môi lồi, cằm thụt vào, hoặc hàm nhô ra, không có đặc điểm nào trong số đó có thể ngay lập tức phát hiện ra khi nhìn chính diện (Hình 1.11).

Đánh giá này phải là một phần của quá trình ra quyết định và thông báo, ví dụ, không chỉ định tiêm chất độn cằm cho bệnh nhân bị hô (hàm dưới nhô ra). Bước thứ sáu là đánh giá khuôn mặt trong tư thế động và quan sát chuyển động của các cơ trên khuôn mặt và biểu cảm của bệnh nhân trong hành động. Cần lưu ý rằng ở những bệnh nhân có gân giữa cơ vòng mi phì đại, Sự co lại của gân này khi cười sẽ làm cho cơ vòng mi nhô ra phía trước và có thể nhìn thấy được. Đối với những bệnh nhân này, việc bổ sung thể tích ở má trước có thể làm trầm trọng thêm tình trạng căng phồng của gân này do sự hợp lại của chất làm đầy được tiêm vào cơ. Những rủi ro như vậy cần được thông báo trước cho bệnh nhân hoặc giải quyết bằng cách tiêm BoNT-A đồng thời vào gân này (Hình 1.12). Ngoài ra, đối với những bệnh nhân có má lúm đồng tiền hoặc má có xu hướng dịch sang bên khi cười do sự chèn ép một phần của cơ gò má vào da (Hình 1.13), tiêm chất làm đầy có thể khiến má sưng húp khi họ cười và hếch sang bên giống như nhân vật hoạt hình Ông Bogus (Hình 1.14), do chất làm đầy được tiêm đẩy ra ngoài bởi cơ mặt. Mặc dù điều quan trọng là các bác sĩ phải khéo léo nhận ra những đặc điểm này trong quá trình tư vấn bệnh nhân bằng cách quan sát biểu cảm của bệnh nhân trong quá trình nói chuyện và mỉm cười bình thường, nhưng cũng rất hữu ích nếu yêu cầu bệnh nhân làm các biểu cảm gương mặt để đánh giá trực tiếp.

Hình 1.12 Gân giữa phì đại của cơ vòng mi (a) Sự co lại của Gân giữa phì đại của cơ vòng mi (b) Giải phẫu Gân giữa cơ vòng mi.
Hình 1.12 Gân giữa phì đại của cơ vòng mi (a) Sự co lại của Gân giữa phì đại của cơ vòng mi (b) Giải phẫu Gân giữa cơ vòng mi.
Hình 1.13 Đánh giá khuôn mặt trong tư thế động
Hình 1.13 Đánh giá khuôn mặt trong tư thế động
Hình. 1.14 Ông Bogus
Hình. 1.14 Ông Bogus

Các khía cạnh văn hóa xã hội

Sẽ rất hữu ích nếu bạn có cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh văn hóa xã hội của bệnh nhân, bao gồm nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, thời gian để vết bầm tím hoặc phù nề giảm dần, quốc tịch, lý tưởng thẩm mỹ dân tộc và các đặc điểm dựa trên giới tính, tất cả đều phải được cân nhắc như là một phần của chiến lược điều trị. Đánh giá cao các yếu tố như vậy sẽ định hướng cho bác sĩ, ví dụ: lượng tiêm thấp hơn sẽ thích hợp cho một bệnh nhân mà nghề nghiệp buộc họ phải đứng trước máy ảnh, chẳng hạn như MC, người nổi tiếng và người mẫu chuyên nghiệp, vì thể tích khuôn mặt ít hơn một chút sẽ tạo ra vẻ ngoài ăn ảnh hơn. Khi tư vấn cho một nam giám đốc điều hành doanh nghiệp ở độ tuổi cuối 40, bác sĩ có thể đề xuất các chiến lược để trẻ hóa khuôn mặt mà không làm cho nó trông quá lộ liễu, chẳng hạn như tiêm chất làm đầy chủ yếu ở các đường nhăn giữa hai lông mày hoặc hõm dưới hốc mắt.

Trong khi đó, khi tư vấn bệnh nhân thuộc các sắc tộc khác nhau, cần xem xét sự khác biệt về thẩm mỹ dân tộc của họ, vì hình dạng khuôn mặt ưa thích và mục tiêu điều trị rất khác nhau giữa người da trắng và người châu Á (xem Nhóm 1.3). Ví dụ, người Hàn Quốc không muốn đường cong gò má dù điều đó được người da trắng coi là lý tưởng thẩm mỹ. Ngược lại, những người da trắng ít có xu hướng mong muốn sở hữu khuôn mặt baby đặc trưng với đôi má đầy đặn phúng phính mà hầu hết người Hàn Quốc đều thấy hấp dẫn. Điều đó cho thấy rằng, sở thích cá nhân của mỗi bệnh nhân cũng phải luôn được tìm hiểu, vì tiêu chuẩn vẻ đẹp của mỗi bệnh nhân không phải lúc nào cũng giống với tiêu chuẩn mà nhóm dân tộc của họ. Ví dụ: một phụ nữ Hàn Quốc ở Los Angeles làm người mẫu chuyên nghiệp hoặc kết hôn với người da trắng có thể yêu thích tiêu chuẩn vẻ đẹp của người da trắng đang thịnh hành trong nghề nghiệp hoặc trong cuộc sống của cô ấy. Ngoài ra, cần lưu ý rằng khi điều trị chứng lõm thái dương ở một bệnh nhân nữ Trung Quốc, nên ưu tiên liều lượng chất làm đầy lớn hơn, vì thái dương đầy đặn, tròn trịa được coi là một đặc điểm tốt lành, giúp người phụ nữ kiếm được một người chồng hoàn hảo trong văn hóa Trung Quốc.

Sự khác biệt về giới

Sự khác biệt về giới tính cũng phải được đưa vào kế hoạch điều trị. Như được miêu tả trong Hình ảnh khuôn mặt nam và nữ hấp dẫn của Hàn Quốc từ 10 khuôn mặt người nổi tiếng Hàn Quốc (Hình 1.15), lý tưởng nhất là nam giới có đôi mắt nhỏ hơn và mũi to hơn so với nữ giới. Ngoài ra, lý tưởng nhất ở nữ giới là xương gò má hơi nổi và má béo hơn, còn ở nam giới thì má hơi hõm vào. Cằm của nam dài và rộng hơn, cằm của nữ nhỏ hơn và nhọn hơn [1]. Liên quan đến hình dạng khuôn mặt lý tưởng, trong khi khuôn mặt hình trái xoan mềm mại là mong muốn của phụ nữ, khuôn mặt lý tưởng của đàn ông là đường nét góc cạnh, mạnh mẽ, góc hàm dưới rõ ràng và cơ cắn mạnh mẽ tạo cảm giác nam tính và cuốn hút hơn. Do đó, điều quan trọng là phải tôn trọng những đặc điểm giới tính này và thay đổi cách tiếp cận đối với bệnh nhân nam và nữ cho phù hợp. Ví dụ, khi điều trị hõm dưới đáy mắt hoặc má hóp, nên tiêm một lượng nhỏ đối với nam giới – vừa đủ để giảm bớt vẻ ngoài hốc hác nghiêm trọng, trong khi tiêm một lượng lớn hơn để tạo ra một đường viền đầy đặn hơn đối với nữ giới. Khối lượng vùng má quá nhiều ở nam giới sẽ làm nữ tính hóa khuôn mặt nam giới vì nó làm mất đi đường viền nam tính góc cạnh mong muốn. Dù vậy, việc xác nhận với từng bệnh nhân về sở thích thẩm mỹ cụ thể của họ luôn là điều thích hợp, vì thời gian gần đây, ngày càng có nhiều nam giới chọn ưa chuộng ngoại hình ái nam ái nữ hoặc mềm mại hơn trước.

Hình 1.15 Khuôn mặt hấp dẫn của nam và nữ Hàn Quốc được tổng hợp từ 10 khuôn mặt người nổi tiếng Hàn Quốc
Hình 1.15 Khuôn mặt hấp dẫn của nam và nữ Hàn Quốc được tổng hợp từ 10 khuôn mặt người nổi tiếng Hàn Quốc

Tiền sử phẫu thuật thẩm mỹ của bệnh nhân

Trong khi một số bệnh nhân lần đầu tiên tiêm chất làm đầy, nhiều bệnh nhân đã có kinh nghiệm với các phương pháp điều trị thẩm mỹ khác nhau, từ tiêm BoNT-A, tiêm chất làm đầy, cấy mỡ và nâng bằng chỉ đến nâng cơ phẫu thuật. Đối với những bệnh nhân có tiền sử điều trị bằng chất làm đầy trước đây, cần hỏi xem họ đã thực hiện thủ thuật khi nào và ở đâu, sử dụng sản phẩm nào. Ngoài ra, sẽ hữu ích khi xem xét mức độ hài lòng của họ đối với các thủ thuật đó và có xuất hiện biến chứng nào không, nếu có.

Mặc dù kết quả của các quy trình trước đó có thể có vẻ thuận lợi nếu nhìn từ bên ngoài, nhưng chúng thường để lại sự kết dính mô và sẹo ở mô dưới da cơ bản do tạo ra collagen mới trong da, có thể rất cứng và đau khi thâm nhập bằng ống tiêm trong quá trình tiêm chất làm đầy HA tiếp theo. Hơn nữa, các mạch máu bị mắc kẹt trong chất của mô sẹo có nguy cơ bị vô tình tiêm chất làm đầy HA vào nội mạch và bầm tím rộng do vỡ mạch. Khi có sự kết dính mô, việc tiêm chất làm đầy HA dưới mô có thể rất khó khăn, vì các mô sẹo liên kết chặt chẽ ngăn chặn sự lắng đọng đồng đều của chất làm đầy HA và gây ra các bất thường trên bề mặt. Điều này có thể gây ra vấn đề đặc biệt khi điều trị trán, nơi chỉ có không gian hạn chế để chứa chất làm đầy. Ở đây, sự kết dính mô rải rác trên nhiều vùng của trán có thể hạn chế việc tạo ra một bề mặt da đồng đều, mịn màng. Tình hình còn tồi tệ hơn đối với những bệnh nhân xuất hiện các cục u và bướu ở trán do quy trình trước đó không được thực hiện đầy đủ, có thể là cấy chất làm đầy dạng tiêm, cấy chất béo tự thân, hoặc nâng da bằng chỉ. Trong trường hợp nguyên liệu được cấy ghép trước đó bao gồm HA, có thể tiêm hyaluronidase để loại bỏ các bất thường hiện có trước khi thực hiện điều trị; tuy nhiên, trong trường hợp sử dụng các chất kích thích collagen như Sculptra® hoặc El Ellansé™ hoặc mỡ tự thân, các bất thường khó điều trị hơn vì chúng là kết quả của sự kết dính mô sẹo do tạo ra collagen mới trong da. Trong những trường hợp như vậy, bệnh nhân cần lưu ý điều này trước khi điều trị, để tránh bệnh nhân quy kết sai kết quả kém thuận lợi cho quy trình tiêm chất làm đầy HA hiện tại.

Ở một mức độ nào đó, tiền sử thẩm mỹ trước đây của bệnh nhân có thể cho thấy cái nhìn sâu sắc quý giá về thái độ của họ đối với điều trị chất làm đầy. Những bệnh nhân tiêm chất làm đầy lần đầu tiên chưa từng có kinh nghiệm về các quy trình thẩm mỹ thường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc điều trị và thời gian nghỉ dưỡng do bầm tím và sưng tấy. Mặt khác, một vài lần chọc kim hầu như không phải là vấn đề đối với bệnh nhân đã từng trải qua các thủ thuật xâm lấn hơn như cắt bỏ góc hàm dưới hoặc phẫu thuật căng da mặt, đặc biệt là đối với những bệnh nhân đã được truyền mỡ tự thân trước đó. Tuy nhiên, lưu ý rằng, trừ khi được hỏi trực tiếp, bệnh nhân thẩm mỹ sẽ hiếm khi tình nguyện cung cấp thông tin liên quan đến các can thiệp thẩm mỹ trước đây của họ. Điều này đặc biệt đúng đối với những bệnh nhân được phẫu thuật xương mặt, chẳng hạn như cắt bỏ góc hàm dưới hoặc phẫu thuật giảm gò má, vì những cuộc phẫu thuật đó sẽ không để lại sẹo rõ ràng ở bên ngoài khuôn mặt. Tuy nhiên, bác sĩ có thể nên hỏi trực tiếp xem bệnh nhân đã phẫu thuật gì chưa nếu bệnh nhân có một nét không tự nhiên bên dưới xương gò má (dấu hiệu của một cuộc phẫu thuật giảm gò má trước đó) hoặc đường viền hàm quá thẳng kéo dài từ tai đến cằm (chắc chắn là từ một ca xâm lấn cắt bỏ góc hàm dưới) vì chất làm đầy HA có thể được sử dụng để phục hồi thể tích đã phẫu thuật cắt bỏ trong từng trường hợp đó (xem Phần 4.14).

Khía cạnh tài chính

Vấn đề tài chính cũng là một phần quan trọng trong phương pháp trị liệu, nhưng vấn đề này thường bị bỏ qua trong cuộc trò chuyện với bệnh nhân. Dù sao thì bác sĩ cũng sẽ không đề cập đến những lợi ích của một thủ thuật mà bệnh nhân không thể chi trả được. Tốt nhất là bác sĩ có thể đưa ra dự đoán về ngân sách của bệnh nhân dựa trên độ tuổi, nghề nghiệp, phản ứng của họ trước các đề xuất lựa chọn điều trị có sẵn, cũng như trực giác của bác sĩ. Nếu không, bạn nên hỏi bệnh nhân trước ngân sách của họ là bao nhiêu. Đối với những bệnh nhân có vẻ muốn ở trong một ngân sách xác định, bác sĩ và bệnh nhân có thể thảo luận cùng nhau để thiết lập các ưu tiên và xác định phương pháp có kết quả phù hợp nhất với những gì bệnh nhân coi là mối quan tâm thẩm mỹ lớn nhất của họ và số tiền họ đã bỏ ra.

Khi chất làm đầy được sử dụng để trẻ hóa khuôn mặt thay vì làm đẹp các bộ phận cụ thể như môi hoặc mũi, phương pháp tiếp cận toàn bộ khuôn mặt thường được sử dụng để tạo ra sự cân bằng tối ưu về tỷ lệ giữa các đặc điểm trên khuôn mặt và ngăn chặn sự chênh lệch giữa các vùng. Tuy nhiên, với phương pháp này, việc tăng khối lượng nhiều vùng trên khuôn mặt đòi hỏi phải sử dụng nhiều ống tiêm chất làm đầy, điều này sẽ gây ra gánh nặng tài chính cho bệnh nhân. Trong trường hợp này, một cách tiếp cận thích hợp hơn cho bệnh nhân là chi phí điều trị không được tính theo số lượng ống tiêm được sử dụng hoặc số lượng các bộ phận riêng lẻ được điều trị mà tính theo dịch vụ trị liệu trọn gói toàn bộ khuôn mặt với giảm giá 5–10 mL chất làm đầy được sử dụng.

Bàn luận: Làm bố của Hoa hậu Hàn Quốc

Không chỉ là một bác sĩ chuyên khoa da liễu, tôi cũng là một bác sĩ thẩm mỹ với công việc liên quan đến việc trẻ hóa hoặc làm đẹp khuôn mặt của khách hàng bằng cách sử dụng các chất tiêm như botox hoặc chất làm đầy. Giúp mọi người trông trẻ hơn và xinh đẹp hơn cũng rất có ý nghĩa như việc chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ốm đau. Bên cạnh đó, vì hầu hết những người đến khám tại phòng khám của tôi đều là những người ưa nhìn nhưng vẫn muốn trở nên đẹp hơn nữa, nên tôi rất vui khi gặp gỡ nhiều gương mặt hấp dẫn trong quá trình luyện tập hàng ngày của mình.

Tôi tình cờ gặp một bệnh nhân như vậy cách đây vài năm; một nữ bệnh nhân có vẻ ngoài quyến rũ, khỏe mạnh ở độ tuổi 20. Cô tự giới thiệu mình là Hoa hậu Hàn Quốc năm trước và đến để hỏi ý kiến liệu cô ấy có thể làm đẹp hơn “khuôn mặt bình thường” của mình theo cách nói của cô ấy bằng cách sử dụng các phương pháp không dùng dao kéo hay không. Rất tiếc là tôi không thể giúp đỡ cô ấy nhiều vì cô ấy có gò má tương đối lớn và phần mũi rộng, nên không thể tăng lượng chất làm đầy. Vì chất làm đầy được chỉ định để lấp đầy các vùng thiếu hụt thể tích trên khuôn mặt như nếp nhăn hoặc má hóp. Nó được dùng để nâng cao mũi tẹt hoặc làm đầy môi mỏng, chứ không được áp dụng để làm nhỏ mũi to hoặc gò má cao. Có lẽ là do cô ấy không trang điểm, nhưng tôi phải công nhận rằng khuôn mặt cô ấy khá dung dị, khiêm tốn chứ không quá kiều diễm. Bệnh nhân tình cờ cùng tuổi với con gái út của tôi. Có lẽ vì lý do đó, trong mắt người cha lẩm cẩm này tôi thấy con gái mình không kém phần xinh đẹp. Tôi đã khuyến khích con bé đi thi Hoa hậu Hàn Quốc và thật tuyệt vời, con gái tôi đã giành chiến thắng năm đó.

Chắc chắn, việc xác định vẻ đẹp khuôn mặt vẫn còn là một vấn đề tranh cãi, nhưng tôi là người ủng hộ mạnh mẽ về tỷ lệ khuôn mặt, điều mà tôi tin rằng, nó vượt qua hầu hết các yếu tố khác của sự hấp dẫn trên khuôn mặt như có làn da trắng, mắt to, mũi cao, đôi môi đầy đặn, hoặc đường quai hàm sắc nét. Mặc dù tôi không thích lúc nào cũng áp dụng tỷ lệ vàng trong thẩm mỹ làm mất đi cá tính và bản sắc của từng bệnh nhân, nhưng các bộ phận trên khuôn mặt nên có cảm giác tương xứng, nếu không, khuôn mặt có thể bị méo mó và kém hấp dẫn một cách kỳ lạ.

Để minh họa quan điểm này trong các bài giảng và hội thảo của mình, tôi thường sử dụng nhiều hình ảnh chỉnh sửa về khuôn mặt của Angelina Jollie. Chỉ giảm kích thước mắt, mũi và miệng trên khuôn mặt của Angelina Jollie thì không ảnh hưởng đáng kể đến sức hấp dẫn trên khuôn mặt của cô ấy. Tuy nhiên, khi tỷ lệ khuôn mặt của cô ấy bị thay đổi theo cách giảm khoảng cách hai đuôi mắt hoặc kéo dài phần xương cằm, khuôn mặt ngay lập tức trở nên méo mó và trông rất kỳ lạ. Điều tương tự cũng xảy ra khi để nguyên tỷ lệ mắt, mũi và miệng của cô ấy, nhưng hình dạng hoặc đường nét trên khuôn mặt sẽ bị biến dạng mất cân đối nếu thu hẹp trán, thu nhỏ cằm hoặc làm tăng gò má. Điều này chứng tỏ sự cân bằng giữa các đặc điểm trên khuôn mặt có vai trò lớn trong việc xác định sức hấp dẫn khuôn mặt chứ không phải tính thẩm mỹ của từng bộ phận trên khuôn mặt. Ví dụ, trong khi con gái út của tôi không hoàn toàn phù hợp với vẻ đẹp cổ điển với đôi mắt to và sống mũi cao, nhưng nó vẫn được trời phú cho một khuôn mặt trái xoan nhỏ nhắn với sự cân đối hài hòa giữa các bộ phận riêng lẻ, kết hợp lại tạo nên một vẻ đẹp phương Đông tuyệt vời. Chính vì quan điểm này, trong con mắt của một chuyên gia thẩm mỹ, con gái tôi hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu Hoa hậu Hàn Quốc.

Không chỉ Sắc đẹp cần sự cân bằng. Đối với hầu hết mọi thứ trong cuộc sống, bạn cần biết cách tạo ra sự cân bằng phù hợp. Các cử tri Hàn Quốc đã chứng minh một sự cân bằng tuyệt vời, gần như kỳ lạ bằng cách cho phép chuyển giao quyền lực giữa hai đảng cầm quyền trong khoảng thời gian 10 năm. Tuy nhiên, vẻ đẹp của sự hài hòa đó dường như bị mất đi đối với chính phủ hiện tại do bị vướng vào “thanh lý tham nhũng tận gốc rễ sâu” trong khi khiến nền kinh tế suy yếu vì chính sách “tăng trưởng dựa trên thu nhập” vẫn còn mơ hồ. Trích từ bộ phim Friend của Hàn Quốc, “Để tôi yên đi, đã quá đủ rồi” (11/2018).

Cân nhắc sự khác biệt về sắc tộc trong quy trình tiêm chất làm đầy

Cố gắng để có một khuôn mặt hoàn hảo lý tưởng đã khiến một số người ủng hộ việc sử dụng một tiêu chuẩn chung duy nhất như tỷ lệ vàng để mô tả sự hấp dẫn trên khuôn mặt. Tuy nhiên, sự hấp dẫn của một gương mặt đẹp Khó có thể được chắt lọc thành một công thức duy nhất. Ngược lại, tiêu chuẩn về vẻ đẹp khuôn mặt không ngừng phát triển theo thời gian và thay đổi giữa các dân tộc khác nhau. Khi còn là học viên mới tập tiêm chất làm đầy, tôi đã tham gia các buổi đào tạo về chất làm đầy của các chuyên gia phương Tây cách đây nhiều năm. Lúc ấy, tôi không thể hiểu rõ tại sao cách mà hình tam giác ngược được vẽ trên khuôn mặt của Brigitte Bardot nối đường cong gò má với đỉnh cằm được gọi là tam giác sắc đẹp, là tiêu chuẩn vàng cho một khuôn mặt thẩm mỹ. Tương tự như vậy, tôi đã cố gắng tìm hiểu tại sao đường cong gò má nhô lên kết hợp vùng thái dương và vùng dưới gò má hơi lõm xuống tạo thành đường cong Ogee được coi là tiêu chuẩn của tất cả các khuôn mặt trẻ đẹp [2]. Bởi lẽ cung gò má nhô lên tương phản với má hóp được coi là một đặc điểm không hài lòng về mặt thẩm mỹ đối với phụ nữ Hàn Quốc bình thường, những người có quan niệm về vẻ đẹp khuôn mặt là khuôn mặt trái xoan với đôi má đầy đặn. Do đó, việc làm nổi bật tam giác sắc đẹp bằng cách nâng cao xương gò má và lông mày sẽ không phù hợp với khuôn mặt châu Á vốn đã có sẵn khuôn mặt tương đối to và gò má cao. Cuối cùng, tôi thấy rằng những sự không tương đồng như vậy nảy sinh từ sự khác biệt trong giải phẫu sọ mặt cơ bản giữa người da trắng và người Châu Á. Theo đó người da trắng thường có phần sọ dài và hẹp ngang, người Châu Á có cấu trúc xương mặt có phần sọ rộng ngang. Chương này trình bày chi tiết những khác biệt về sắc tộc cần xem xét khi thực hiện các thủ thuật tiêm chất làm đầy trên mọi bệnh nhân nhưng chủ yếu tập trung vào việc điều trị cho người Châu Á.

Định nghĩa Người Châu Á và Hình thái Khuôn mặt Châu Á

Lục địa châu Á đại diện cho một lãnh thổ rộng lớn trải dài từ Trung Đông đến Đông Bắc Á, bao gồm các nhóm dân tộc đa dạng và không đồng nhất, không thể được mô tả như một dân số đồng nhất. Do đó, vì mục đích nhất quán, thuật ngữ Châu Á xuất hiện trong chương này được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ đề cập đến Người Đông Á bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng như các dân số Đông Nam Á, và không bao gồm các sắc tộc từ Ấn Độ và các quốc gia Ả Rập có khuôn mặt gần giống với người da trắng. Ngay cả theo cách định nghĩa hẹp này, khuôn mặt người châu Á có thể được phân loại thành ba kiểu hình thái khác nhau dựa trên các vùng địa lý, đó là kiểu khuôn mặt miền bắc, miền trung và miền nam (Hình 1.16). Kiểu khuôn mặt miền bắc thường là người Mông Cổ, phía Bắc Trung Quốc và Hàn Quốc, trong khi kiểu khuôn mặt miền nam điển hình là những người từ Philippines, Thái Lan và Việt Nam, và kiểu khuôn mặt miền trung phổ biến ở những người đến từ Hồng Kông, Đài Loan và miền Nam Trung Quốc (Hình 1.17) [3].

Liên quan đến các đặc điểm hình thái cụ thể, kiểu khuôn mặt miền bắc có đặc điểm nổi bật là hàm dưới và cung gò má nổi bật tạo thành một khuôn mặt vuông; khuôn mặt của họ có chiều rộng mắt nhỏ hẹp, không có nếp gấp mí mắt, và sống mũi cao với cánh mũi nhỏ và hẹp (Bảng 1.2). Da thường trắng, tương ứng với loại da Fitzpatrick 2 hoặc 3. Kiểu mặt miền nam có đặc điểm là một khuôn mặt hình bầu dục nhỏ với góc hàm dưới và cung gò má ít nổi bật hơn, nếp gấp mí mắt rộng với mắt to và sống mũi không cao với cánh mũi rộng, tròn. Da có xu hướng sẫm màu hơn và có nhiều sắc tố hơn loại khuôn mặt miền bắc (loại da Fitzpatrick 4 hoặc 5). Kiểu khuôn mặt miền trung có đặc điểm là khuôn mặt tròn với cằm tương đối nhỏ. Các bộ phận của khuôn mặt miền trung (mắt, mũi và miệng) là sự kết hợp của hai kiểu khuôn mặt còn lại.

Hình 1.16 Hình thái khuôn mặt của người châu Á gồm các kiểu khuôn mặt miền bắc, miền trung và miền nam (từ trái sang phải).
Hình 1.16 Hình thái khuôn mặt của người châu Á gồm các kiểu khuôn mặt miền bắc, miền trung và miền nam (từ trái sang phải).
Hình 1.17 Các kiểu hình thái khuôn mặt của người châu Á dựa trên các vùng địa lý.
Hình 1.17 Các kiểu hình thái khuôn mặt của người châu Á dựa trên các vùng địa lý.

Bảng 1.2 Đặc điểm của các kiểu hình thái khuôn mặt khác nhau của người châu Á

Miền Bắc Miền Trung Miền Nam
Khu vực Mông cổ, Miền bắc Trung quốc, Hàn quốc Hồng Kông, Đài Loan, Miền nam Trung Quốc Philippin, Thái Lan, Việt Nam, và các quốc gia Đông Nam Á khác
Hình dạng khuôn mặt Vuông Tròn Hẹp, Trái xoan
Cung gò má Cao Trung bình Không cao
Góc hàm Nổi bật Trung bình Không nổi bật
Chiều rộng mắt Hẹp Trung bình Rộng
Nếp nhăn mí mắt Không có Trung bình
Sống mũi Cao Trung bình Thấp
Cánh mũi Nhỏ hẹp Trung bình Rộng tròn

Tất nhiên, cách phân loại này không phải là tiêu chuẩn tuyệt đối để xác định và phân biệt các khuôn mặt châu Á. Dù mỗi khu vực địa lý có kiểu hình thái khuôn mặt khác nhau, nhưng có cá nhân sẽ có các đặc điểm hình thái của các bộ phận khuôn mặt khác nhau (Hình 1.18) [4]. Tuy nhiên, phân loại này có vai trò cung cấp các phương pháp điều trị cá nhân cho bệnh nhân Châu Á thuộc các loại khuôn mặt và mong muốn thẩm mỹ khác nhau.

Sự khác biệt về hình dạng hộp sọ giữa người da trắng và người châu Á

Một sự khác biệt rõ ràng giữa khuôn mặt châu Á và da trắng nằm ở hình dạng hộp sọ của họ. Đặc điểm khuôn mặt của người châu Á rộng và phẳng hơn so với khuôn mặt của người da trắng. Trong khi hộp sọ của người da trắng khá dô về trước và hẹp ngang, thì hộp sọ của Châu Á lại rộng ngang và không dô về phía trước (Hình 1.19). Hơn nữa, đầu của người châu Á có cấu trúc vòm sọ cao, trong đó chiều dài của khuôn mặt thì dài hơn so với chiều dày của khuôn mặt, trong khi mặt dưới và cằm có xu hướng tương đối nhỏ [5]. Một đặc điểm nổi bật khác giúp phân biệt khuôn mặt của người châu Á với người da trắng là sự nổi bật của cung gò má và góc hàm dưới. Sống mũi khá thấp ở người châu Á càng góp phần làm cho khuôn mặt trở nên phẳng hơn.

Hình 1.18 Một cá nhân có các đặc điểm hình thái của các booh phận khuôn mặt khác nhau. Người phụ nữ Hàn Quốc xinh đẹp này có một số đặc điểm thuộc loại khuôn mặt miền nam như nếp gấp mí mắt và chiều rộng mắt rộng nhưng cũng có các đặc điểm kiểu miền bắc như cung gò má nổi bật, khuôn mặt rộng và sống mũi hẹp
Hình 1.18 Một cá nhân có các đặc điểm hình thái của các booh phận khuôn mặt khác nhau. Người phụ nữ Hàn Quốc xinh đẹp này có một số đặc điểm thuộc loại khuôn mặt miền nam như nếp gấp mí mắt và chiều rộng mắt rộng nhưng cũng có các đặc điểm kiểu miền bắc như cung gò má nổi bật, khuôn mặt rộng và sống mũi hẹp
Hình 1.19 Hộp sọ của người da trắng dô về trước (trái) và hộp sọ của người châu Á lại rộng ngang (phải). (Ảnh: Tiến sĩ Tommy S. Hwang)
Hình 1.19 Hộp sọ của người da trắng dô về trước (trái) và hộp sọ của người châu Á lại rộng ngang (phải). (Ảnh: Tiến sĩ Tommy S. Hwang)
Hình 1.20 So sánh giữa khuôn mặt hấp dẫn.
Hình 1.20 So sánh giữa khuôn mặt hấp dẫn.

Sự khác biệt về tiêu chuẩn vẻ đẹp khuôn mặt giữa người da trắng và người châu Á

Mỗi dân tộc lại có một tiêu chuẩn đánh giá riêng về khuôn mặt bình thường và khuôn mặt lý tưởng của dân tộc đó. Các đặc điểm được đề cập trước đó là các đặc điểm của khuôn mặt trung bình của người châu Á, chúng không đại diện cho lý tưởng về vẻ đẹp khuôn mặt mà người châu Á mong muốn. Trong phần sau, chúng tôi khám phá các đặc điểm khác biệt của vẻ đẹp khuôn mặt lý tưởng của người da trắng và người châu Á để cung cấp các phương pháp điều trị thẩm mỹ phù hợp theo các mục tiêu thẩm mỹ khác nhau của mỗi nhóm người [6].

Như minh họa trong Hình 1.20, một khuôn mặt hấp dẫn đối với người da trắng thường có các đặc điểm sau: khoảng cách hẹp giữa mắt và lông mày, đôi mắt sâu và lông mày cong cao; mắt to với mí mắt to rõ rệt, không có bọng mắt dưới. Mũi cao với sống mũi hẹp, cánh mũi hẹp và đầu mũi nhọn. Các đặc điểm trên khuôn mặt được ưa thích cũng bao gồm môi dày, căng mọng, góc hàm dưới và xương gò má rõ rệt do các phần má dưới và thái dương hõm vào. Ngược lại, một khuôn mặt hấp dẫn của người châu Á có các đặc trưng sau: lông mày thẳng, ngang, cách mắt tương đối xa; mí trên phẳng; đôi mắt tương đối lớn, nếp gấp mí mắt không rõ rệt; có bọng mắt dưới. Một khuôn mặt đẹp của người châu Á có đặc điểm đầu mũi hơi tròn và sống mũi dài vừa phải, cũng như đôi môi căng mọng vừa phải, khuôn mặt trái xoan với hai má đầy đặn mà không có cung gò má hoặc hàm dưới nổi bật (Bảng 1.3).

Sự khác biệt về tiêu chuẩn vẻ đẹp khuôn mặt theo nhóm dân tộc như vậy đã được chỉ ra qua nghiên cứu phân tích so sánh dựa trên hình ảnh khuôn mặt kết hợp của những nữ nhân vật nổi tiếng đại diện cho các nhóm dân tộc [7, 8]. Đặc biệt, nếu chúng ta so sánh khuôn mặt kết hợp của các nữ diễn viên da trắng xinh đẹp như Angelina Jolie và Hillary Duff với khuôn mặt kết hợp của những người nổi tiếng Hàn Quốc như Lee Young-Ae, Kim Tae Hee và Song Hae- Kyo, có thể tìm thấy một số khác biệt nổi bật nhất định (Hình 1.21). Khuôn mặt lý tưởng của phụ nữ Da trắng có khoảng cách giữa hai mí mắt không quá lớn, các bộ phận trên khuôn mặt (mắt, mũi và miệng) sắc nét, má tương đối hõm, gò má cao và hàm dưới sắc cạnh, hoàn toàn mang lại vẻ ngoài góc cạnh hơn so với khu-ôn mặt lý tưởng của người châu Á (Hình 1.16).

Bảng 1.3 Sự khác biệt giữa khuôn mặt hấp dẫn của người châu Á và người da trắng

người Da trắng người Châu Á
Lông mày Cong Thẳng
Khoảng cách giữa mắt và lông mày Hẹp với mí mắt trên trũng sâu Rộng với mí mắt trên không sâu
Khuôn mặt Tam giác sắc đẹp Trái xoan
Gò má Cao Thấp hơn
Góc hàm Sắc cạnh Mềm mại hơn
Hơi lõm Đầy đặn
Mắt To vu Khá to
Nếp gấp mí mắt Không có hoặc hẹp
Bọng mắt dưới Không có
Đầu mũi Nhọn Khá tròn
Sống mũi Cao, sắc Cao vừa phải
Cánh mũi Nhỏ hẹp Khá rộng
Môi Dầy, to Dầy vừa phải
Hình 1.21 So sánh các khuôn mặt tổng hợp hấp dẫn giữa người Da trắng và người Châu Á được tạo ra từ 10 khuôn mặt của những người nổi tiếng thuộc mỗi nhóm người.
Hình 1.21 So sánh các khuôn mặt tổng hợp hấp dẫn giữa người Da trắng và người Châu Á được tạo ra từ 10 khuôn mặt của những người nổi tiếng thuộc mỗi nhóm người.

Ngay cả trong cộng đồng dân cư Đông Á, tiêu chuẩn khuôn mặt hấp dẫn của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng có khác biệt nhỏ. Khuôn mặt lý tưởng Trung Quốc có chiều rộng khuôn mặt hẹp nhất và má thon nhất trong khi khuôn mặt Nhật Bản có cằm nhô ra rõ ràng nhất (Hình 1.22) [8]. Từ những khuôn mặt tổng hợp này, chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù những phụ nữ đẹp nhất có thể có những điểm tương đồng nhất định, nhưng nhận thức về sự hấp dẫn trên khuôn mặt không bao giờ đồng nhất giữa các dân tộc và có thể không chỉ được nắm bắt bằng một công thức thống nhất như tỷ lệ vàng. Tiêu chuẩn về sức hấp dẫn khuôn mặt là sự kết hợp phức tạp giữa các yếu tố sinh học, văn hóa và nhận thức khác nhau. Do đó, điều tối quan trọng đối với các học viên là phải có sự đánh giá sâu sắc đối với những sở thích thẩm mỹ dân tộc riêng biệt như vậy và cho ra phương pháp thẩm mỹ phù hợp với quan niệm về vẻ đẹp mà mỗi dân tộc theo đuổi.

Hình 1.22 So sánh khuôn mặt tổng hợp hấp dẫn của phụ nữ Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản từ 10 khuôn mặt của những người nổi tiếng thuộc từng quốc gia (từ trái sang phải).
Hình 1.22 So sánh khuôn mặt tổng hợp hấp dẫn của phụ nữ Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản từ 10 khuôn mặt của những người nổi tiếng thuộc từng quốc gia (từ trái sang phải).

Các chiến lược điều trị bằng chất làm đầy khác nhau cho người da trắng và người châu Á

Các chiến lược tạo đường nét trên khuôn mặt khác nhau dựa trên những khác biệt cơ bản về giải phẫu

Như đã đề cập trước đó, do sự khác nhau về cấu trúc giải phẫu khuôn mặt giữa người da trắng và người châu Á, hình dạng khuôn mặt lý tưởng của hai nhóm là khác nhau, điều này phải được quan tâm khi thực hiện các phương pháp điều trị bằng chất làm đầy. Ví dụ: vì người da trắng có xu hướng có hộp sọ dô về trước và hẹp, quy trình để nâng cao phần giữa khuôn mặt ở bệnh nhân da trắng thường bao gồm làm tăng thể tích gò má bên để làm nổi bật hình tam giác vẻ đẹp theo tiêu chuẩn của người da trắng. Tuy nhiên, không nên áp dụng phương pháp nâng cao phần giữa mặt theo chiều ngang như vậy đối với người châu Á có khuôn mặt miền bắc bởi hộp sọ của họ rộng ngang, nó sẽ khiến khuôn mặt vốn đã rộng rộng của họ trông to hơn và rộng hơn. Thay vào đó, nâng cao phần giữa mặt theo chiều dọc như nâng cao các bộ phận khuôn mặt ở giữa như trán, mũi, gò má giữa và cằm, v.v. và làm nổi bật các khía cạnh bên được khuyến khích hơn ở người châu Á, vì chúng giúp khuôn mặt được nâng cao lên phía trước và có chiều sâu hơn, đa chiều hơn khiến khuôn mặt nhìn có vẻ thon gọn hơn (Bảng 1.4; Hình 1.23).

Tương tự như vậy, trong khi nâng cao chân mày bên hoặc tạo đường viền quai hàm bằng chất làm đầy (tức là nâng cao đường viền bên của góc hàm dưới để tạo cho khuôn mặt hình dạng vuông hơn) có thể phù hợp để làm nổi bật một khuôn mặt người da trắng hẹp. Nhưng phương pháp này hầu như không được thực hiện ở người châu Á vì nếu mở rộng cho khuôn mặt vốn đã rộng của người châu Á sẽ chỉ làm cho khuôn mặt có vẻ to hơn và thô kệch hơn.

Hình 1.23 Các chiến lược khác nhau để nâng cao phần giữa mặt giữa người da trắng và người châu Á.
Hình 1.23 Các chiến lược khác nhau để nâng cao phần giữa mặt giữa người da trắng và người châu Á.

Bảng 1.4 Sự khác biệt về chỉ định tiêm chất làm đầy giữa người da trắng và người châu Á theo vùng trên khuôn mặt

người Da trắng người Châu Á
Nâng trán Chủ yếu được thực hiện khi có bất thường ở trán Phổ biến/ Tăng độ lồi cho khuôn mặt vốn đã khá bằng phẳng của người châu Á
Nâng chân mày bên Đạt được độ cong lông mày Hiếm khi được thực hiện
Nâng thái dương Chỉ được thực hiện khi thái dương nõm sâu nghiêm trọng Phổ biến
Nâng gò má Nâng cao gó má bên Nâng cao gò má dưới hốc mắt
Tăng góc hàm Tăng thể tích và sự nổi bật cho một khuôn mặt hẹp gầy Hiếm khi được thực hiện
Làm đầy má (má hóp) Chỉ được thực hiện khi má hóp nghiêm trọng Mối quan tâm gần đây
Tăng bọng mắt Hiếm khi được thực hiện Phổ biến
Nâng mũi Chủ yếu được thực hiện để sửa sống mũi gồ Phổ biến
Bơm môi Phổ biến Phổ biến gần đây
Nâng cằm cho cằm thụt Chủ yếu để chỉnh sửa cằm thụ Cả hai chỉ định được yêu cầu phổ biến / cằm thụt chữ V.
Hình 1.24 Các chiến lược khác nhau để đạt được hình dạng khuôn mặt lý tưởng cho người da trắng và người Châu Á.
Hình 1.24 Các chiến lược khác nhau để đạt được hình dạng khuôn mặt lý tưởng cho người da trắng và người Châu Á.

Ngược lại, để đạt được mục tiêu thẩm mỹ của người châu Á là có khuôn mặt trái xoan mềm mại, một chỉ định phổ biến ở người châu Á là làm đầy các vùng thái dương trũng và hõm má để làm giảm sự nổi bật của gò má bên và giúp đường viền khuôn mặt bên từ thái dương đến đường viền hàm trở nên mềm mại hơn (Hình 1.24). Tuy nhiên, khi thực hiện phương pháp này ở khuôn mặt người da trắng, chỉ nên tăng một thể tích rất nhỏ khi các vùng lõm thái dương và hõm má bị lõm quá nhiều để không làm mất đi đường cong Ogee được người da trắng coi là tiêu chuẩn thẩm mỹ. Bơm cằm hoặc nâng cao đỉnh cằm cũng là một chỉ định được yêu cầu cao ở người châu Á để tạo ra đường viền hàm thành hình chữ V mong muốn và tạo thêm chiều cao cho khuôn mặt, giúp khuôn mặt trông thon gọn hơn so với chiều rộng khuôn mặt. Các thủ thuật khác thường được sử dụng ở người châu Á để thêm chiều sâu cho khuôn mặt bao gồm nâng trán, nâng mũi bằng chất làm đầy và nâng cằm thụt vào (Hình 1.18).

Các chiến lược khác nhau để định hình các đặc điểm trên khuôn mặt (Bảng 1.5)

Nâng mũi là một trong những thủ thuật tiêm chất làm đầy phổ biến đối với những người châu Á có sống mũi tương đối thấp hơn người da trắng. Điều này trái ngược với những người da trắng do họ thực hiện phẫu thuật nâng mũi bằng chất làm đầy ít hơn, chủ yếu để chỉnh sửa mũi gồ hoặc đầu mũi bị lệch. Mặc dù trong số các kiểu hình thái khuôn mặt của người châu Á, kiểu khuôn mặt miền bắc có sống mũi tương đối cao hơn, nhưng nhóm này vẫn thường được sử dụng chất làm đầy mũi để chỉnh sửa mũi gồ hoặc để nâng một phần sống mũi trên. Điều này phù hợp với những bệnh nhân có góc mũi – trán hẹp vì nó giúp phần chuyển tiếp giữa cung mày và sống mũi mềm mại hơn. Ở người miền Nam có khuôn mặt đặc trưng là mũi tẹt với chân mũi rộng, nâng mũi bằng chất làm đầy không chỉ được áp dụng để nâng cao sống mũi mà còn để tạo hình và xoay đầu mũi bằng cách tiêm chất làm đầy vào cuống mũi và vùng giao giữa bờ dưới mũi và môi trên để mở góc mũi – môi. Cần lưu ý rằng người châu Á thường có đầu mũi tròn và do đó, tốt nhất nên tránh tiêm trực tiếp vào đầu mũi vì nó có khả năng tạo ra mũi quả lê. Do đó, chỉ nên tiêm một lượng nhỏ vừa đủ chất làm đầy vào đầu mũi để tạo ra điểm nhấn nhẹ.

Trong khi đó, trong khi lông mày cong cao với đỉnh bên được coi là đặc điểm thu hút ở phụ nữ da trắng, và do đó, nâng lông mày bằng chất làm đầy thường được thực hiện ở người da trắng để hơi nâng chân mày bên. Nâng cung mày hiếm khi được thực hiện ở người Châu Á, bởi họ thích lông mày thẳng, ngang. Mặt khác, sử dụng chất làm đầy để điều trị mí mắt trên bị trũng là một chỉ định đã trở nên phổ biến gần đây ở người châu Á vì nó mang lại cho đôi mắt trẻ trung và thư thái hơn. Người châu Á thích sự đầy đặn ở mí trên, nên họ cho rằng sự xuất hiện của hốc mắt tạo ra vẻ ngoài mệt mỏi và già dặn. Những người da trắng có đôi mắt sâu với khoảng cách giữa mắt và chân mày hẹp là một đặc điểm khuôn mặt phổ biến hơn.

Người da trắng và người Châu Á cũng khác nhau về tiêu chuẩn thẩm mỹ của họ đối với vẻ đẹp đầy đặn hơn. Bọng mắt to là một cấu trúc được tạo ra bởi sự co lại phần mí mắt của cơ vòng mi khi mỉm cười. Vì vậy, sự xuất hiện thường xuyên của bọng mắt lớn khi mặt thư giãn mang lại ấn tượng mỉm cười mềm mại, thân thiện cũng như tạo khuôn nếp gấp ở mắt để tạo ra ảo giác về đôi mắt to hơn. Vì lý do này, chúng được gọi là ‘nếp gấp mắt’ của mí mắt dưới. Đối với người Hàn Quốc, tăng bọng mắt bằng chất làm đầy là một chỉ dẫn đặc biệt phổ biến (Hình 1.25). Tuy nhiên, theo quan điểm của người Da trắng, bọng mắt có thể là một yếu tố khiến mắt người châu Á nhỏ trông càng nhỏ hơn. Trên thực tế, họ cho rằng như vậy là bởi sự phát triển của một chỉ định BoNT-A mới để loại bỏ bọng mắt để mở rộng rãnh mắt [9].

Tuy nhiên, loại bỏ bọng mắt dưới bằng phương pháp này sẽ ức chế sự co lại của rãnh mắt trong khi cười, khiến biểu cảm của mắt không phù hợp với các phần còn lại của khuôn mặt khi cười, tạo ra sự chênh lệch khá kỳ lạ (Hình 1.26).

Khi nghỉ ngơi, nó dẫn đến màng cứng dưới của mắt màu trắng, tạo ra một hình ảnh rùng rợn. Vì vậy, thủ thuật này tuyệt đối chống chỉ định ở người Hàn Quốc. Thay vào đó, hầu hết người châu Á, đặc biệt là những người có khuôn mặt miền bắc, nên tiêm chất làm đầy vào bọng mắt dưới của họ. Điều đó cho thấy rằng, những kiểu khu-ôn mặt miền Nam có nét tương đồng thẩm mỹ với người da trắng là đôi mắt to, tròn, hình quả hạnh đôi khi có thể chọn loại bỏ bọng mắt dưới đầy đặn bằng phương pháp điều trị BoNT-A. Do đó, phương pháp điều trị bọng mắt phải được xác định dựa trên sở thích của bệnh nhân.

Hình 1.25 (a) Trước và (b) sau khi tăng bọng mắt kết hợp với bơm chất làm đầy cho mắt trũng và rãnh lệ.
Hình 1.25 (a) Trước và (b) sau khi tăng bọng mắt kết hợp với bơm chất làm đầy cho mắt trũng và rãnh lệ.
Hình 1.26 (a, c) Trước và (b, d) sau khi loại bỏ bọng mắt dưới bằng cách tiêm độc tố botulinum.
Hình 1.26 (a, c) Trước và (b, d) sau khi loại bỏ bọng mắt dưới bằng cách tiêm độc tố botulinum.

Bơm môi từ trước đến nay là một chỉ định thẩm mỹ phổ biến đối với những người da trắng, những người cho rằng đôi môi căng mọng và lớn là hấp dẫn. Mặt khác, xu hướng bơm môi bằng chất làm đầy đã xuất hiện cách đây vài năm ở châu Á. Bắt đầu xu hướng mới này, thậm chí còn có một phòng khám da liễu thẩm mỹ ở Seoul chỉ tập trung vào thủ thuật làm phồng môi mà không tập trung vào các phương pháp điều trị thẩm mỹ khác. Cuối cùng, nâng cằm ở người da trắng được thực hiện chủ yếu để khôi phục cằm bị thụt thay vì làm nổi bật đỉnh cằm (hay còn gọi là “chất làm đầy V-line”) vì khuôn mặt vốn đã dài và hẹp của họ không cần kéo dài thêm nữa. Ngược lại, sự kết hợp giữa chỉnh sửa cằm lẹm và chất làm đầy V-line được sử dụng thường xuyên ở người châu Á, đặc biệt là ở các kiểu khuôn mặt trung bình, để tăng thêm cả thể tích và chiều dọc của cằm vì hình dạng khuôn mặt của họ tròn, không đủ dài.

Tóm tắt

Trang bị kiến thức về các tiêu chí thẩm mỹ khuôn mặt khác nhau giữa người da trắng và người Châu Á để có hình dạng khuôn mặt lý tưởng và hấp dẫn là bước khởi đầu để đưa ra phương pháp điều trị thẩm mỹ phù hợp cho đúng nhóm người. Điều tương tự cũng áp dụng khi thực hiện các quy trình nâng cơ da mặt với chất làm đầy. Như đã lưu ý trước đây, khuôn mặt trung bình của người châu Á có xu hướng rộng và phẳng, gò má lớn và một phần ba mặt dưới tương đối nhỏ. Vì vậy, việc nâng cao mặt giữa theo chiều dọc làm nổi bật các đặc điểm của trán, mũi và cằm, v.v., để tăng hình chiếu phía trước và tạo cảm giác khuôn mặt thon gọn hơn được ưa thích để làm thon gọn khuôn mặt người châu Á và do đó đạt được lý tưởng thẩm mỹ của khuôn mặt trái xoan giống em bé. Tương tự như vậy, việc làm đầy thái dương lõm và má hóp để làm giảm sự nổi bật của gò má thường được áp dụng ở người châu Á để làm mềm đường viền khuôn mặt bên và đạt được độ thon mềm hơn về phía dưới. Cuối cùng, khuôn mặt của người châu Á có thể được phân loại thành ba kiểu hình thái riêng biệt, đó là kiểu khuôn mặt miền bắc, miền trung và miền nam và các giải pháp khác biệt cần được cung cấp phù hợp với mục tiêu thẩm mỹ của từng nhóm.

Tài liệu tham khảo

  1. Hu KS, Koh KS, Han SH, Shin KJ, Kim HJ. Sex determination using non-metric traits of the mandible in Koreans. J Foren-sic Sci. 2006;51(6):1376–82.
  2. Goodman GJ. Facial attractiveness and the central role of volume. In: Car-ruthers J, Carruthers A, editors. Soft tis-sue augmentation. Philadelphia: Elsevier; 2018. p. 7–15.
  3. Sundaram H, Huang PH, Hsu NJ, Huh CH, Wu W, Wu Y, Cassuto D, Kerscher MJ, Seo KI, Pan-Asian Aesthetics Toxin Con-sensus Group. Aesthetic applica tions of botulinum toxin A in Asians: an interna-tional, multidisciplinary, pan-asian con-sensus. Plast Reconstr Surg Glob Open. 2016;4(12):e872.
  4. Seo KK. Aesthetic use of botulinum toxin in Asians. In: Benedetto AV, edi-tor. Botulinum toxins in clinical aesthetic practice, Functional anatomy and injec-tion techniques, vol. 2. 3rd ed. Boca Raton, FL: CRC Press/Taylor and Francis Group; 2018. p. 299–309.
  5. Kim HJ, Seo KI, Lee HK, Kim JS. Clin-ical anatomy of face for botulinum toxin and filler injection. Berlin: Springer; 2016. p. 45–8.
  6. Seo KK. Botulinum toxin for Asians. Singapore: Springer Nature Ltd.; 2017. p. 37–43.
  7. Rhee SC, Lee SH. Attractive compos-ite faces of different races. Aesthet Plast Surg. 2010;34:800–1.
  8. Rhee SC. The average Kore-an attractive face. Aesthet Plast Surg. 2006;30(6):729–30.
  9. Flynn TC, Carruthers JDA, Carruthers JA. Botulinum toxin treatment of the low-er eyelid improves infraorbital rhytid-es and widens the eye. Dermatol Surg. 2001;27(8):703–8.
Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here