Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm: Những phát triển mới

Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm: Những phát triển mới

Nhà thuốc Ngọc Anh – Chương 15: Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm

Tác giả: Sabrina G. Fabi and Hema Sundaram

Nguồn: Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ

Bác sĩ: PATRICIA K.FARRIS

Giới thiệu

Các đặc tính cơ học, bảo vệ và phục hồi của da suy giảm theo tuổi tác. Tiếp vic hàng ngày với các tác nhân gây stress bên ngoài môi trường bao gồm tia UV và khói thuốc lá, gây tăng stress oxy hóa, hậu quả là mô tổn thương do sự suy giảm chất chống oxy hóa, cùng với với sự gia tăng sản xuất các chủng oxy phản ứng (ROS – còn được gọi là các gốc tự do). Nhiều con đường sinh hóa được kích hoạt bởi ROS dẫn đến việc ức chế yếu tố tăng trưởng biến đổi beta (TGFB-R2), biểu hiện quá mức của ma trận metalloproteinase (MMPs) là các collagenase, và tăng phản ứng viêm thông qua con đường yếu tố hướng nhân kappa beta (NFkB). Tia UV cũng gây ra tổn thương trực tiếp cho các protein cấu trúc của da.

Những tác động này làm trầm trọng thêm tình trạng suy giảm nội tại của da, có liên quan đến sự suy giảm dần dần khả năng chống oxy hóa do tuổi tác cùng với việc tăng sản xuất các loại oxy phản ứng từ quá trình chuyển hóa oxy hóa trong các tế bào của da. Điều này góp phần làm quá tải ROS và các hiệu ứng sinh hóa được mô tả ở trên. Phân tích các tế bào lão hóa cho thấy sự rút ngắn dần telomere, cũng góp phần làm tổn thương mô. Hình 15.1 cho thấy bảng tóm tắt các con đường chính liên quan đến quá trình lão hóa da.

Sự lão hóa của da, do các yếu tố bên ngoài và bên trong, dẫn đến tổn thương nội, ngoại bào, phá vỡ mạng lưới collagen và elastin trong lớp bì. Các biểu hiện như khô da, mất tính đàn hồi, teo da, rối loạn sắc tố, và các nếp nhăn nhỏ và sâu là những đặc điểm của lão hóa. Tìm kiếm cho các Phương pháp điều trị an toàn, không xâm lấn để làm chậm hoặc đảo ngược lung thay đổi này của làn da lão hóa vẫn còn là thách thức.

Hình 15.1 Tổng quan đơn giản về các con đường sinh hóa nội và ngoại sinh của quá trình lão hóa da. Nguồn: Courtesy of SkinMedica, Inc
Hình 15.1 Tổng quan đơn giản về các con đường sinh hóa nội và ngoại sinh của quá trình lão hóa da. Nguồn: Courtesy of SkinMedica, Inc

Nghiên cứu về sinh lý bệnh của da bị tổn thương do ánh sáng cho thấy ” tương quan với một vài khía cạnh của việc lành vết thương cấp tính an tính. Cụ thể, một số thay đổi sinh hóa xảy ra trong quá trình lão 4 bên trong và bên ngoài tương tự những thay đổi xảy ra trong quá trình hình thành vết thương và hậu quả của nó. Do đó, hiểu biết về quá trình chữa lành vết thương có thể nâng cao hiểu biết về lão hóa da và những can thiệp có thể nỗ lực thực hiện làm chậm hoặc thậm chí đảo ngược quá trình này.

Các yếu tố tăng trưởng và cytokine (sau đây gọi là GFs) bao gồm một nhóm lớn các protein điều hòa gắn vào các thụ thể trên bề mặt tế bào tạo tín hiệu cho gian bào và nội bào để kiểm soát sự tăng trưởng, sinh sôi và phân hóa của tế bào. Trong da, chúng được sản xuất tự nhiên bởi các nguyên bào sợi, tế bào sừng, tế bào lympho và tế bào mast. GF là những chất truyền tin hóa học điều hòa các hoạt động đặc trưng, thiết yếu của tế bào như tăng sinh tế bào, hóa hướng động và hình thành chất nền ngoại bào. Bảng 15.1 và 15.2 cho thấy các cơ chế hoạt động chính của các GFs và cytokine chính và phụ.

Khi da bị thương, GFs tích tụ tại vị trí tổn thương, tương tác hiệp đồng để khởi động và phối hợp chữa lành vết thương. GFs có thể đảo ngược tác động của các collagenase, tăng nồng độ collagen và giảm phản ứng viêm mô. Ứng dụng tại chỗ của các yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ người hoặc động vật trong các nghiên cứu lâm sàng đã được chứng minh là làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng của quá trình lão hóa da. Kết quả bao gồm giảm có ý nghĩa thống kê các nếp nhăn và sự gia tăng tổng hợp collagen ở lớp bì.

GF có thể có nguồn gốc từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm con người động vật, vi khuẩn, nấm men và thực vật. Các GF bôi tại chỗ nổi lên như một phương thức điều trị hấp dẫn có thể được khai thác cho các mục đích thẩm mỹ và y khoa. Người ta công nhận rằng GFs và cytokine bôi tại cho có thể cùng kết hợp để tạo ra các hiệu ứng mong muốn. Khi hiểu biết các chúng ta về cơ chế hoạt động của các công thức GF tăng lên, thì chúng “ có thể áp dụng đầy đủ các lợi ích tiềm năng của chúng trong lâm sàng.

Bảng 15.1 Các yếu tố tăng trưởng và các cytokine chính.

Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu VEGF

– Hóa ứng động và phân bào đối với tế bào nội mô và thúc đẩy hình thành mạch

– Được cho là làm tăng tính thẩm của mạch máu để cải thiện dinh dưỡng mô

Yếu tố tăng trưởng bắt nguồn từ tiểu cầu PDGF AA, PDGF BBC:

– Hóa ứng động và phân bào nguyên bào sợi

– Được cho là điều hòa sự phát triển và phân chia tế bào trong chữa lành vết thương

Yếu tố tăng trưởng chuyển dụng TGFB1, TGFB2, TGFB3

– Hóa ứng động và phân bào nguyên bào sợi

– Điều chỉnh protein nền bao gồm collagen và proteoglycan

Chất ức chế Metalloproteinase của mô TÌMP1, TÌMP2

– Điều chính hoạt động của các enzym ngăn ngừa sự phân hủy collagen và axit hyaluronic

Source: Sundaram et al. (2009). Reproduced with permission of the Journal of Drugs in Dermatology

Bảng 15.2 Các yếu tố tăng trưởng và các cytokine phụ.

 

Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi bFGF (FGF-2), FGF-4, FGF-6, KGF (FGF-7), FGF-9

– Được cho là có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng tế bào da và sửa chữa mô

Yếu tố tăng trưởng tế bào gan HGF Growth Factor HGF

– Được cho là để thúc đẩy sự phát triển mô ba chiều

Yếu tố tăng trưởng giống insulin IGF1, IGFBP1, IGFBP2, IGFBP3, IGFBP6

– Được cho là thúc đẩy sự phát triển và nhân lên của tế bào

Yếu tố tăng trưởng nhau thai PLGF.

– Được cho là có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng tế bào nội mô

Protein hình thái xương BMP7

– Được cho là thúc đẩy sự phát triển của các tế bào thần kinh ở các mô đang phát triển

Interleukin: 15 Interleukin khác nhau bao gồm IL 10 và IL 13

– Được cho là có vai trò quan trọng trong việc chữa viêm và chữa lành vết thương

– Được cho là gây tiết các cytokine khác

Source: Sundaram et al. (2009). Reproduced with permission of the Journal of Drugs in Dermatology.

Sinh lý bệnh của lão hóa

da Lão hóa da nội sinh và ngoại sinh là quá trình tích lũy xảy ra đồng thời, Theo thời gian, chúng dẫn đến giảm lượng collagen ở da và elastin. Đánh giá mô học của vùng da bị tổn thương do ánh nắng mặt trời cho thấy có sự dát phẳng lớp liên kết bì- thượng bì với mất các nhu bì, giảm hoạt động của nguyên bào sợi, giảm độ dày lớp bì, giảm mạch máu và các sợi elastin bị phân mảnh, sắp xếp lộn xộn. Sự giảm tổng hàm lượng elastin và giảm khả năng tổng hợp tiền collagen loại I đã được quan sát thấy ở da bị tổn thương do ánh nắng mặt trời so với da người trẻ. Da bị tổn thương bởi ánh nắng cho thấy sự sụt giảm có ý nghĩa thống kê (20%) trên tổng lượng collagen so với da được bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời, và cả da được bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời và da bị tổn thương do ánh sáng đều cho thấy sự giảm bề dày trung bình lớp thượng bì theo tuổi. Hơn nữa, lão hóa nôi sinh gây ra sự giảm sản xuất và nồng độ các yếu tố tăng trưởng trong da.

So sánh lão hóa da với sự hình thành và lành thương

Một số thay đổi sinh hóa trong quá trình lão hóa da nội sinh và ngoại sinh tương tự như những thay đổi được quan sát thấy khi vết thương xảy ra. GF được biết là rất quan trọng đối với quá trình lành vết thương phức tạp, nhiều bước. Mức GF trong cơ thể đạt đỉnh điểm ở tuổi trẻ và giảm dần sau đó. Do đó, có thể giả thuyết rằng lão hóa da tương tự như một vết thương đủ rộng để lấn át các cơ chế sửa chữa vốn có của da, thứ trở nên suy yếu theo tuổi tác. Điều này cung cấp cơ sở lý luận cho việc bôi GFs tại chỗ có nhiệm vụ chữa lành vết thương, với mục đích bổ sung lượng GFs bị suy giảm và làm chậm hoặc thậm chí đảo ngược quá trình lão hóa da. Cơ sở lý luận có thể được mở rộng cho vết thương da do điều trị, chẳng hạn như laser và các thủ thuật trẻ hóa da khác; giả thuyết cho rằng GFs tại chỗ cũng có thể giúp lành vết thương trong tình huống này và thậm chí có thể nâng cao hiệu quả cuối cùng.

Phản ứng chữa lành vết thương bắt đầu sau khi vết thương da xảy ra, thúc đẩy sự phát triển của tế bào mới và giảm sự co thắt và tạo sẹo của vết thương. Quá trình lành vết thương thường được chia thành 4 giai đoạn: cầm máu, phản ứng viêm, tăng sinh và tái tạo. Các giai đoạn khác nhau được kiểm soát bởi GF, cũng như quá trình chuyển đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn tiếp theo. Sự tương tự giữa da tổn thương và da lão hóa được củng cố bởi sự thật là tình trạng viêm ban đầu thấy ở da tổn thương có ROS là trung gian, giống như những thay đổi ở da lão hóa. Đáng chú ý là, trong khi quá trình lão hóa nội sinh không liên quan đến tình trạng viêm, hiện tượng tổn thương do ánh sáng cấp tính có liên quan đến tình trạng viêm qua trung gian ROS.

Giai đoạn tăng sinh, được gọi là giai đoạn tạo mô hạt, được đánh dấu bằng sự hình thành mạch, tạo xơ và lăng độ chất nền ngoại bào, tất cả đều dẫn đến tái biểu mô hóa. Giai đoạn tái tạo , còn được gọi là giai đoạn tăng trưởng, là giai đoạn cuối cùng của quá trình chữa lành vết thương sau khi tạo hạt và tái biểu mô hóa vết thương hay giai đoạn bong vảy sau viêm của da bỏng nắng. Trong giai đoạn sửa chữa vết thương này, tích trữ và tái tạo lại ECM xảy ra, cấu trúc collagen loại III và elastin có sức bền thấp, tổ chức tương đối kém, được tạo ra trong quá trình lành vết thương ban đầu được thay thế bằng collagen loại I bền vững hơn và cấu thành sợi elastin để tái tạo sức mạnh cũng như khả năng phục hồi cho lớp bì. Giai đoạn tu sửa này có thể kéo dài trong vài tháng. Hình 15.2 cho thấy các GF hoạt động trong ba giai đoạn chính của quá trình chữa lành vết thương: ban đầu, viêm qua trung gian ROS, tiếp theo là tạo mô hạt ở vết thương và cuối cùng là tái tạo vết thương.

Hình 15.2Các GF chính hoạt động trong quá trình chữa lành vết thương. GF là một phần của mạng liên lạc tế bào phức tạp và hoạt động hài hòa với nhau.
Hình 15.2Các GF chính hoạt động trong quá trình chữa lành vết thương. GF là một phần của mạng liên lạc tế bào phức tạp và hoạt động hài hòa với nhau.

Sự cân bằng giữa sự phát triển và thoái lui của phản ứng viêm liên quan đến các yếu tố tăng trưởng và cytokine bao gồm PDGF, VEGF, HGF, TGF B, EGF, G-CSF, KGF, IL-6 và IL-8, và kết quả là chữa lành vết thương thành công.

Các GFs và Cytokine trong quá trình lão hóa da

Quá trình chữa lành vết thương phụ thuộc vào sự tương tác phức tạp giữa các GF khác nhau. GFs liên quan đến chữa lành vết thương có thể tạo ra collagen, elastin mới, hình thành glycosaminoglycan và trung gian hình thành mạch. Nếu một số tác nhân này được cung cấp cho các tế bào ở da lão hóa có nhiệm vụ sản xuất và tái tạo chất nền ngoại bào, chúng có thể làm trung gian cho quá trình trẻ hóa da.

Các nghiên cứu đã cho thấy sự xâm nhập tối thiểu của các phân tử ưa nước trọng lượng phân tử lớn hơn 500 Da vào lớp sừng nguyên vẹn. GFs là những phần tử lớn, ưa nước có trọng lượng phân tử lớn hơn 15.000 Da. Do đó, khó có khả năng GF có thể thâm nhập vào lớp biểu bì nguyên vẹn với số lượng đủ để tạo ra các hiệu ứng lâm sàng đáng kể. Người ta tin rằng một Cơ chế mà GF có thể phát huy tác dụng của chúng ở lớp bì là thông qua sự xâm nhập qua các nang lông và tuyến mồ hôi.

Da lão hóa cũng có thể cho phép thẩm thấu tốt hơn, vì chức năng hàng rào của nó có phần bị tổn thương. Một khi GF đã thâm nhập vào lớp sừng, chúng có thể tương tác Với các thụ thể đặc hiệu trên tế bào sừng, bắt đầu một dòng thác tín hiệu cytokine tác động đến nguyên bào sợi và các tế bào khác ở lớp bì. Sự liên kết tượng bì- bì này trong quá trình chữa lành vết thương có thể phản ánh tác động của GFs ngoại sinh, được bồi tại chỗ. Sự khuếch đại tác dụng ban đầu của GFs tại chỗ có thể xảy ra khi các tế bào sừng kích thích nguyên bào sợi tổng hợp các yếu tố tăng trưởng, từ đó kích thích tăng sinh tế bào sừng (Hình 15.3). Kết quả của sự tạo collagen và tái tạo lại chất nền. ngoại bào có đã được quan sát trên mô học (Hình 15.3)và có thể tích quan với các kết quả lâm sàng được trình bày chi tiết dưới đây.

Hình 15.3 Đề xuất cơ chế hoạt động và thác tín hiệu cho GFs và cytokine.
Hình 15.3 Đề xuất cơ chế hoạt động và thác tín hiệu cho GFs và cytokine.

Lợi ích và chỉ định lâm sàng

GFs người bôi tại chỗ có bán trên thị trường được lấy từ nguyên bào sợi nuôi cấy nguồn gốc từ bao quy đầu trẻ sơ sinh (TNS Recovery ComplexTM, SkinMedica Inc., Carlsbad, CA) và các protein tế bào da đã qua xử lý (PSPTM, Neocutis, Lausanne, Thụy Sĩ), có chứa hỗn hợp các cytokine, các yếu tố tăng trưởng và chất chống oxy hóa có nguồn gốc từ các dòng tế bào của thai nhi. GF có nguồn gốc từ dịch tiết của ốc sên Cryptomphalus aspersa (SCA) cũng có sẵn trên thị trường (TensageTM, Biopelle, Inc.,Ferndale, MI, sản xuất bởi Công ty Industrial Farmabolica Cantabria, SA).

Trong một nghiên cứu lâm sàng, một hỗn hợp gồm nhiều GF có nguồn gốc từ nguyên bào sợi của người (TNS Recovery Complex) đã được bôi tại chỗ cho 14 bệnh nhân hai lần mỗi ngày trong 60 ngày với mục đích kích thích tái tạo da. Các bệnh nhân được đánh giá phân loại lâm sàng về lão hóa ánh sáng trên thang điểm chín, bằng phương pháp đo cấu trúc quang học trên mẫu sinh thiết bấm trên vùng da đã điều trị để đánh giá những thay đổi về độ dày và mô bệnh học vùng Grenz. Khoảng 78,6% bệnh nhân bị tổn thương da do ánh sáng cho thấy sự cải thiện lâm sàng sau 60 ngày (Hình 15.4). Đánh giá bằng kính hiển vi ghi nhận 37% cho thấy sự hình thành collagen mới trong vùng Grenz, và 27% cho thấy sự dày lên của thượng bì (Hình 15.4).

162Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩmChương 15 _Hình 15.4 Kết quả sau khi áp dụng hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng và cytokine tại chỗ (TNS Recovery Complex, SkinMedica) hai lần mỗi ngày trong 60 ngày ở 14 bệnh nhân. Các thành màu đen trên máy đo quang thể hiện độ dày của vùng Grenz của lớp hạ bì. Biểu đồ hình cột cho thấy sự gia tăng trung bình trên 35% độ dày của vùng Grenz ở 14 bệnh nhân được nghiên cứu. Nguồn: Fitzpatrick & Rostan
Hình 15.4 Kết quả sau khi áp dụng hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng và cytokine tại chỗ (TNS Recovery Complex, SkinMedica) hai lần mỗi ngày trong 60 ngày ở 14 bệnh nhân. Các thành màu đen trên máy đo quang thể hiện độ dày của vùng Grenz của lớp hạ bì. Biểu đồ hình cột cho thấy sự gia tăng trung bình trên 35% độ dày của vùng Grenz ở 14 bệnh nhân được nghiên cứu. Nguồn: Fitzpatrick & Rostan

Một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên với tá dược, dùng cùng một hỗn hợp GF trên 60 bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 55 và lão hóa ánh sáng trên khuôn mặt (nhẹ đến trung bình ở 48 đối tượng và nặng ở 12 đối tượng) cho thấy sự cải thiện về nếp nhăn nhỏ quanh mắt, màu da, kết cấu và tăng sắc tố. (p = 0,012 tại 3 tháng) (Hình 15.5). Đánh giá từ bệnh nhân và bác sĩ được thực hiện trước điều trị, 3 và 6 tháng sau. Hình ảnh từ máy đo quang học của các vết hằn bề mặt da silicone cho thấy sự cải thiện độ nhám da (p = 0,045 sau 3 tháng) (Hình 15.6 và 15,7)

Một nghiên cứu của PSP (Biocream, Neocutis, Lausanne, Thụy Sĩ) đã đánh giá những thay đổi về mặt lâm sàng, mô học và cơ sở cấu trúc từ các GF có nguồn gốc từ con người, Mười hai đối tượng thoa kem hai lần một ngày cho toàn bộ khuôn mặt trong 6 tháng. Sinh thiết bấm vùng da trước tại trước và sau điều trị. Các đánh giá sâu hơn bao gồm chụp ảnh và đánh giá lâm sàng trên da mặt để tìm các nếp nhăn. Cải thiện lâm sàng của các nếp nhăn quanh mắt và quanh miệng ghi nhận trung bình lần lượt là 33% và 25%. Đánh giá mô học cho thấy những thay đổi trung bình về độ dày thượng bì cũng như sự gia tăng mật độ nguyên bào sợi ở lớp bì nông vào thời điểm cuối của 6 tháng điều trị. Kính hiển vi điện tử cho thấy những thay đổi về mặt mô học bằng những phát hiện phù hợp với sự hình thành collagen mới.

Hình 15.5 Kết quả lâm sàng sau khi áp dụng hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ người và hỗn hợp cytokine (TNS Recovery Complex) hai lần mỗi ngày trong 60 ngày ở 60 bệnh nhân. Cải thiện các nếp nhăn tốt và tăng sắc tố dạng đốm rõ ràng.
Hình 15.5 Kết quả lâm sàng sau khi áp dụng hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ người và hỗn hợp cytokine (TNS Recovery Complex) hai lần mỗi ngày trong 60 ngày ở 60 bệnh nhân. Cải thiện các nếp nhăn tốt và tăng sắc tố dạng đốm rõ ràng.
Hinh 15.6 Vết hằn bề mặt da trên silicone từ vùng quanh mắt của bệnh nhân được điều trị bằng hỗn hợp GF có nguồn gốc từ người tại chỗ. Số lượng và độ sâu của vết hằn giảm rõ rệt sau 6 tháng sử dụng.
Hinh 15.6 Vết hằn bề mặt da trên silicone từ vùng quanh mắt của bệnh nhân được điều trị bằng hỗn hợp GF có nguồn gốc từ người tại chỗ. Số lượng và độ sâu của vết hằn giảm rõ rệt sau 6 tháng sử dụng.

Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, hai trung tâm, kéo dài 14 tuần, 25 bệnh nhân bị lão hóa ánh sáng vùng mặt mức độ trung bình đến nặng được điều trị trong 12 tuần với nhũ tương chứa 8% SCA và se-rum lỏng chứa 40% SCA (Tensage) ở một bên của khuôn mặt và với kem giả dược ơ bên đối diện. Các vết hằn da silicon của nếp nhăn quanh mắt được thực hiện trước và sau 12 tuần điều trị. Đánh giá từ bệnh nhân và bác sĩ cũng được thực hiện lúc ban đầu và lúc 8,12 và 14 tuần. Ở tuần thứ 12, có sự cải thiện đáng kể về nếp nhăn thô quanh mắt ở phía bên được điều trị bằng hoạt chất GF (p = 0,03). Kết cấu da cũng được cải thiện ở 8 và 12 tuần vẫn được cải thiện trong 2 tuần sau khi ngừng sản phẩm (14 tuần) (Hình 15.8).

Hình 15.7. Phân ,tích cấu hình quang học của các vết bằng bề mặt da bằng silicone. Sự giảm đáng kể có ý nghĩa thống kê về các nếp nhăn thô và mịn được nhìn thay sau 3 tháng và cải thiện có ý nghĩa sau 6 tháng.
Hình 15.7. Phân ,tích cấu hình quang học của các vết bằng bề mặt da bằng silicone. Sự giảm đáng kể có ý nghĩa thống kê về các nếp nhăn thô và mịn được nhìn thay sau 3 tháng và cải thiện có ý nghĩa sau 6 tháng.

Những phát triển mới

Một bước phát triển mới thú vị là thế hệ GFs từ việc nuôi cấy các nguyên bào sợi nguồn gốc từ da của trẻ sơ sinh chứng minh các biểu hiện đa năng trong điều kiện thiếu oxy mô phỏng môi trường của bào thai. Các nguyên bào sợi này biểu hiện và tiết ra các GF bao gồm KGF, VEGF và IL-8, cùng với các protein liên kết với tế bào gốc. Người ta giả thuyết rằng điều này có thể tạo ra đặc điểm tái tạo sản sinh collagen nhiều hơn, với sự biểu hiện nhiều phép đo mexameter. Việc sử dụng mỡ phục hồi cũng giảm có ý nghĩa thống kê ở những đối tượng được điều trị bằng lotion dạng hoạt động (p = 0,0004)

Một đánh giá chia đôi mặt 42 đối tượng trải qua kết hợp thủ thuật laser có và không bóc tách cho thấy sự hồi phục nhanh chóng hơn về chức năng hàng rào da bình thường với gel có chứa GF hoạt tính, được đo bằng sự mất nước qua biểu bì (p nhỏ hơn hoặc = 0,05)

165Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹe-bacsi.comphép đo mexameter. Việc sử dụng mỡ phục hồi cũng giảm có ý nghĩa thống kê ở những đối tượng được điều trị bằng lotion dạng hoạt động (p = 0,0004).Một đánh giá chia đôi mặt 42 đối tượng trải qua kết hợp thủ thuật laser có và không Hình 15.8 Kết quả lâm sàng sau khi bôi hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ động vật và hỗn hợp cytokine (Tensage) trong 14 tuần ở 25 bệnh nhân. Nữ da trắng lúc ban đầu (trên cùng) và 14 tuần (dưới). Phần bên trái của khuôn mặt nhận được GF hoạt động; phía bên phải nhận được kem giả dược. Courtesy of Joel Cohen, MD.
165Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹe-bacsi.comphép đo mexameter. Việc sử dụng mỡ phục hồi cũng giảm có ý nghĩa thống kê ở những đối tượng được điều trị bằng lotion dạng hoạt động (p = 0,0004).Một đánh giá chia đôi mặt 42 đối tượng trải qua kết hợp thủ thuật laser có và không Hình 15.8 Kết quả lâm sàng sau khi bôi hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ động vật và hỗn hợp cytokine (Tensage) trong 14 tuần ở 25 bệnh nhân. Nữ da trắng lúc ban đầu (trên cùng) và 14 tuần (dưới). Phần bên trái của khuôn mặt nhận được GF hoạt động; phía bên phải nhận được kem giả dược. Courtesy of Joel Cohen, MD.

Cân nhắc về an toàn và hiệu quả

Tất cả các sản phẩm bôi ngoài da đều có nguy cơ gây kích ứng hoặc viêm da tiếp xúc dị ứng. Vì một số tế bào ác tính có thể có các thụ thể đối với một vài GF nhất định và một số GF có thể làm tăng sinh tế bào, nên có tranh cãi về việc liệu GF có tiềm năng tạo khối u hoặc thúc đẩy các tế bào không điển hình. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các GF cụ thể với da động vật và tế bào khối u ở người đã cho thấy các kết quả khác nhau. Cơ sở của việc ngoại suy những dữ liệu này để áp dụng hỗn hợp GF bôi lên da người vẫn còn cần được làm sáng tỏ.

Trong một nghiên cứu, EGF, TGF-a và suramin (chất ức chế yếu tố tăng trưởng) được bôi lên da chuột trong 9 ngày trước khi chuột bị thí nghiệm. Người ta thấy rằng TGF-a làm tăng hoạt động của creatine phosphokinase (CPK). EGF và TGF-a đều gây ra sự chuyển đổi từ CPK MM sang isoenzyme CPK BB. Ý nghĩa của những phát hiện này là hệ thống phosphocreatine / CPK được tin là đóng vai trò quan trọng trong sinh lý bình thường của da và trong các tình trạng sinh lý bệnh như bệnh vẩy nến và ung thư. Đánh giá mô bệnh học cho thấy sự biệt hóa và phân bố bất thường của các tế bào sừng.

Trong một nghiên cứu về các tế bào khối u ở người bằng cách sử dụng phản ứng chuỗi polymerase sao chép ngược, biểu hiện VEGF được tìm thấy trong tất cả 15 dòng tế bào được kiểm tra, trong khi thụ thể VEGF, KDR, chỉ được phát hiện ở ba dòng tế bào melanoma. Bổ sung VEGF ngoại sinh (10 ng / mL) có thể kích thích tăng sinh các tế bào melanoma này lên đến 40%. Ngược lại, Graeven và cộng sự nhận thấy VEGF ngoại sinh không có tác động đáng kể đến sự tăng sinh tế bào melanoma hoặc sự sản xuất mục tiêu phiên mã cho VEGF. Một nghiên cứu khác về các tế bào khối u ở người, bao gồm carcinoma tế bào vảy ở đầu và cổ và các melanoma, cho thấy rằng điều trị VEGF tế bào khối u biểu hiện thụ thể, VEGFR-1, thực sự ức chế sự tăng sinh và di cư của tế bào.

Cho đến nay, không có dữ liệu hoặc báo cáo nào chỉ ra rằng GFs tại chỗ có thể có vai trò kích thích hoặc ức chế trong quá trình sinh ung thư ở người. Các tiếp cận dựa trên bằng chứng thực nghiệm yêu cầu các nghiên cứu có nhóm chứng về GF được bôi tại chỗ trên da người còn nguyên vẹn, thay vì các báo cáo trên lý thuyết hoặc nghiên cứu trên động vật sử dụng nồng độ GFs vượt ngưỡng sinh lý. Còn nhiều tranh cãi về việc liệu tác dụng của việc sử dụng nồng độ cao của một hoặc một vài GF có thể được ngoại suy cho tình trạng lâm sàng của việc sử dụng nồng độ thấp hơn của hỗn hợp chứa nhiều GF. Sản xuất và hoạt động của GF nội sinh của cơ thể được kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ chế phản hồi âm và dương. Hỗn hợp GF tiết ra tự nhiên có thể ở trạng thái tương tự cân bằng sinh ly va cùng hướng đến các cơ chế kiểm soát tương tự.

Giống như nhiều protein, GFs vốn không ổn định khi không ở trong môi trường sinh lý của chúng. Các công thức có chứa chất hoạt động e mặt, dầu và các tá dược khác có thể làm biến tính và bất hoạt protein. Do đó, hiệu quả lâm sàng của hỗn hợp GF chỉ có thể được đánh giá chính xác bằng các nghiên cứu sử dụng công thức hoàn chỉnh, thay vì từng thành phần riêng lẻ.

Kết luận

Các yếu tố tăng trưởng và cytokine (GF) nâng cấp quá trình hồi phục và tái tạo tế bào. Các yếu tố tăng trưởng tại chỗ đã được chứng minh là có khả năng kích thích sự hình thành collagen mới và làm dày lớp biểu bì, dẫn đến cải thiện lâm sàng các vết sần và độ nhám cua da. GF cũng có thể hoạt động hiệp đồng với chất chống oxy hóa va retinoids. Các bằng chứng thực nghiệm đánh giá tác dụng lâm sàng của GFs, bao gồm cả hoạt động của chúng khi kết hợp với các hoạt chất chống lão hóa, cần có các nghiên cứu có nhóm chứng sâu hơn, lý tưởng là tá dược – nhóm chứng. Trong tất cả các quy 167Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹe-bacsi.comtrình sản xuất dược mỹ phẩm, tính bền vững và chất lượng của các sản phẩm GF vẫn là ưu tiên hàng đầu.

Xem thêm: Peptides có hoạt tính sinh học có tác dụng gì cho da?

Further reading

  1. Babu M, Wells A. Dermal-epidermal com-munication in wound healing. Wounds 2001; 13:183-189.
  2. Eming SA, Krieg T, Davidson JM. Inflam-mation in wound repair: molecular and cel-lular mechanisms. J Invest Dermatol 2007; 127: 514-525.
  3. Fabi SG, Peterson JD, Kiripolsky MG, Co-hen J, Goldman MP. The effects of filtrate of the secretion of the cryptomphalus aspersa (SCA) on photoaged skin. JDrugs Dermatol 2013; 12(4): 453-457.
  4. Fitzpatrick RE. Endogenous growth fac-tors as cosmeceuticals. Dermatol Surg 2005; 31:827-831 [discussion 831].
  5. Fitzpatrick RE, Rostan EF. Reversal of photodamage with topical growth factors: A pilot study. J Cosmet Laser Ther 2003; 5: 25-34.
  6. Hussain M, Phelps R, Goldberg D. Clini-cal, histologic, and ultrastructural changes after use of human growth factor and cyto-kine skin cream for the treatment of skin reju venation. J Cosmet Laser Ther, 10:2,104-109.
Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here