Bệnh tự kỷ ở trẻ em là gì? Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị

Hiện nay, tỷ lệ trẻ mắc bệnh tự kỷ ngày càng tăng cao và trở thành nỗi lo của các bậc làm cha làm mẹ. Tự kỷ ảnh hưởng đến nhiều mặt về sự phát triển của con trẻ, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội. Vậy bệnh tự kỷ là gì, có các dấu hiệu gì giúp các bậc phụ huynh có thể phát hiện sớm ở trẻ và các phương pháp điều trị hiện nay là gì, bạn đọc theo dõi bài viết của Nhà thuốc Ngọc Anh nhé.

1, Đại cương về tự kỷ

Định nghĩa: Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm Rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội. (Hội nghị toàn quốc về tự kỉ ở Mỹ 1999).

1.1. Dịch tễ học của bệnh tự kỷ

Trên thế giới, cứ 1000 trẻ thì có 2-5 trẻ mắc tự kỷ. Trong 10 năm trở lại đây, tỉ lệ trẻ mắc bệnh tự kỷ ngày càng tăng do có sự thay đổi về các tiêu chuẩn chẩn đoán.

Ở Việt Nam, chưa có số liệu cụ thể về tỉ lệ mắc. Theo một số nghiên cứu sàng lọc ở trẻ từ 18-24 tháng tại Thái Bình, tỉ lệ này là 4,1/1000 trẻ.

Tỷ lệ mắc tự kỷ theo giới tính: Nam/Nữ: 4,3/1

1.2. Nguyên nhân gây bệnh tự kỷ là gì?

Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân phát sinh bệnh tự kỷ, tuy nhiên đến nay căn nguyên vẫn chưa được làm rõ. Có một vài nhận định cho rằng, bệnh tự kỷ có thể gây ra do các yếu tố:

Tổn thương não hoặc não bộ kém phát triển thường gặp ở những trẻ: đẻ non, cân nặng sơ sinh thấp, đẻ ngạt, các biến chứng về não do can thiệp sản khoa khi sinh, nhiễm khuẩn và chấn thương não,…

Các yếu tố về di truyền: các bất thường về nhiễm sắc thể, bất thường về nhóm gen dẫn đến hàng loạt các khiếm khuyết trong đó có tự kỷ ở trẻ.

Các yếu tố môi trường: sự phát triển như vũ bão của thời đại công nghệ 4.0 khiến trẻ được tiếp xúc với ti vi, điện thoại, máy tính bảng,… trong thời gian rất dài mà thiếu đi sự tương tác với thế giới bên ngoài, được giao lưu, chơi đùa cùng bố mẹ cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến tỉ lệ mắc tự kỉ ở trẻ ngày càng cao. Ngoài ra, một số hóa chất, kim loại nặng có thể gây tổn thương lên não bộ của trẻ.

1.3. Phân loại bệnh tự kỷ

Theo thời điểm mắc bệnh:

Tự kỷ điển hình hay còn gọi là tự kỉ bẩm sinh: trẻ có các biểu hiện bệnh trong 3 năm đầu đời.
Tự kỷ không điển hình- hay tự kỉ mắc phải: trẻ có biểu hiện về ngôn ngữ, giao tiếp hoàn toàn bình thường trong 3 năm đầu, sau đó các triệu chứng về tự kỷ xuất hiện, biểu hiện thoái triển về ngôn ngữ và giao tiếp.

Theo chỉ số thông minh:

  • Trẻ có chỉ số thông minh cao và nói được
  • Trẻ có chỉ số thông minh cao và không nói được
  • Trẻ có chỉ số thông minh thấp và nói được
  • Trẻ có chỉ số thông minh thấp và không nói được

Theo mức độ:

  • Trẻ tự kỉ mức độ nhẹ: trẻ có thể có hoạt động mắt tương đối bình thường, các kỹ năng chơi và nói bình thường, trẻ vẫn có thể học được các hoạt động đơn giản tuy nhiên khả năng giao tiếp với người ngoài hơi hạn chế.
  • Trẻ tự kỉ mức độ trung bình: trẻ có thể hoạt động mắt bình thường, nói vẫn còn hạn chế và giao tiếp với người ngoài hạn chế.
  • Trẻ tự kỉ mức độ nặng: trẻ không có khả năng giao tiếp bằng mắt, không nói được và không thể giao tiếp được với người ngoài.

2, Biểu hiện lâm sàng của bệnh tự kỷ

Biểu hiện của trẻ mắc bệnh tự kỷ là gì?
Biểu hiện của trẻ mắc bệnh tự kỷ là gì?

Dưới đây là 5 dấu hiệu cờ đỏ nghi ngờ, giúp phát hiện sớm trẻ có mắc bệnh tự kỉ hay không:

  • Trẻ không bập bẹ khi đã 12 tháng tuổi
  • Trẻ không biết ra hiệu (vỗ tay, chỉ tay, …) khi 12 tháng tuổi
  • Trẻ không biết nói các từ đơn như: bà, bố, mẹ,… khi được 16 tháng tuổi
  • Trẻ không tự nói được câu 2 từ khi 24 tháng tuổi (không tính câu trẻ nói lặp lại)
  • Trẻ mất hoặc không có kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp ở bất kỳ độ tuổi nào.

Trong quá trình phát triển của trẻ, trẻ có thể mắc bệnh tự kỷ nếu có các dấu hiệu sau:

Các đặc điểm về hành vi: 

Những bất thường trong tương tác hành vi ở trẻ: Trẻ tự kỉ thường không hoặc ít biểu hiện sự liên hệ trong các kỹ năng xã hội thể hiện sự gắn bó với mọi người xung quanh như: ông bà, bố mẹ, bạn bè. Khi còn nhỏ, trẻ thường ít nói cười, ít thể hiện các cử chỉ khi được người lớn bế, tránh nhìn vào mắt mọi người.

Trẻ tự kỷ thường không phân biệt được những người thân quen, gần gũi với chúng và không có phản ứng với người lạ, trẻ không biết chào hỏi bằng điệu bộ (vẫy tay, giơ tay). Trẻ không biết thể hiện hành vi, yêu cầu muốn được đáp ứng như: không chỉ tay vào vật trẻ thích, không biết xòe tay ra xin, khoanh tay để ạ.

Ngoài ra, trẻ không có khả năng nhận ra trạng thái, tình cảm của những người xung quanh từ đó không có các tương tác qua lại phù hợp: không thể hiện vui khi bố mẹ về, không có cử chỉ âu yếm với người thân, không đáp ứng khi được gọi tên…

Những bất thường trong giao tiếp và ngôn ngữ ở trẻ:

Trẻ chậm nói hoặc không nói so với trẻ cùng trang lứa. Nếu còn nhỏ, trẻ thường bập bẹ rất ít hoặc phát ra các tiếng động như tiếng gõ, tiếng cười và các âm thanh vô nghĩa khác mà không có ý định giao tiếp.

Trẻ tự kỉ thường lẩm bẩm một mình, nhại lại lời của người khác hoặc lặp đi lặp lại một số câu nói trong mọi tình huống. Trẻ không có hoặc ít có khả năng khời xướng cuộc hội thoại: không có khả năng rủ, gọi mọi người cùng giao tiếp, không biết duy trì cuộc hội thoại và không biết đưa ra quan điểm cá nhân.

Bên cạnh đó, trẻ còn không có khả năng chơi cùng đồ chơi, trẻ không biết cách sử dụng đồ chơi mà có các hành động bất thường như: ném, gặm, đập đồ chơi.

Những mối quan tâm gò bó, định hình, trùng lặp và các hành vi bất thường: 

Trẻ bị tự kỉ quá bận tâm mang tính định hình bất thường cả về cường độ và độ tập trung như: trẻ quá thích một mùi vị đặc biệt, thích sờ vào bề mặt, quá thích chơi với một loạiđồ chơi nào đó, quá thích nhìn tay,…. Trẻ còn có biểu hiện cử động chân, tay, thân mình lặp lại hoặc rập khuôn như: quá thích đu đưa thân mình, thích đi nhón chân, thích lắc lư đầu,…

Những bất thường về khí sắc, trạng thái cảm xúc không ổn định: Trẻ tự kỷ thường thể hiện sự thay đổi cảm xúc rất nhanh chóng, đột ngột như: trẻ đột nhiên khóc, đột nhiên cười mà không có một lý do nào cụ thể.

Các rối loạn bệnh lý phối hợp khác: Trẻ bị rối loạn tự kỷ có nguy cao bị nhiễm trùng đường hô hấp và các rối loạn tiêu hóa như: ợ, táo bón, co bóp ruột kém. Trẻ cũng có khả năng bị sốt cao co giật cao hơn những trẻ khác. Ở trẻ tự kỷ, trẻ có thể không cảm nhận được sự tăng nhiệt độ có thể có ở những bệnh nhiễm trùng và không biểu hiện trạng thái khó chịu như thông thường. Ở một số trường hợp, trẻ có rối loạn hành vi tăng khi bị các bệnh nhẹ.

Như vậy, để giúp trẻ được phát hiện và chẩn đoán sớm có thực sự mắc tự kỉ hay không, rất cần sự quan tâm, gần gũi của các bậc phụ huynh, người trông trẻ.

3, Chẩn đoán bệnh tự kỷ như thế nào?

Chẩn đoán trẻ mắc bệnh tự kỷ như thế nào?
Chẩn đoán trẻ mắc bệnh tự kỷ như thế nào?

Chẩn đoán mức độ: Dựa vào thang điểm tự kỷ ở trẻ em (CARS):

Thang điểm tự kỷ ở trẻ em bao gồm 15 lĩnh vực như sau: Quan hệ với mọi người; Bắt chước; Đáp ứng tình cảm; Động tác cơ thể; Sử dụng đồ vật; Thích nghi với sự thay đổi; Phản ứng thị giác; Phản ứng thính giác; Phản ứng qua khứu giác và vị giác; Sự sợ hãi hay hồi hộp; Giao tiếp bằng lời; Giao tiếp không lời; Mức độ hoạt động; Đáp ứng trí tuệ; Ấn tượng chung về tự kỷ.

Mỗi lĩnh vực trên được đánh giá từ 1-4 điểm. Sau đó sẽ tính tổng điểm của cả thang điểm và được nhận định như sau:

  • Trẻ không tự kỷ: 15-30 điểm
  • Trẻ có tự kỷ nhẹ và vừa: 31-36 điểm
  • Trẻ có tự kỷ nặng: 37 – 60 điểm

Một số Test đánh giá trẻ tự kỉ khác đang được áp dụng như:

  • Test Denver
  • Bộ câu hỏi đánh giá theo tuổi và giai đoạn (ASQ)
  • Bảng kiểm sàng lọc tự kỉ có sửa đổi (M-CHAT 23)
  • Đánh giá tự kỉ theo tiêu chuẩn DSM IV

Các cận lâm sàng có thể làm:

  • Các xét nghiệm công thức máu, hóa sinh máu thường quy
  • Điện tâm đồ, điện não đồ, lưu huyết não
  • Đo thính lực
  • CT sọ não

Các biểu hiện lâm sàng giúp chẩn đoán sớm trẻ tự kỉ tuy nhiên vẫn có thể nhầm lẫn với một số bệnh lý cần phân biệt dưới đây:

Trẻ chậm phát triển tâm thần kèm rối loạn hành vi

  • Trẻ tăng động giảm chú ý
  • Trẻ bị khiếm thính
  • Trẻ có rối lọan phát triển ngôn ngữ
  • Trẻ có các bất thường về chức năng tâm thần do nguyên nhân thực thể tại não như: u não, cấu trúc não bất toàn, dị dạng mạch máu não, …
  • Rối loạn ám ảnh nghi thức
  • Rối loạn ám ảnh gắn bó ở trẻ.

 4, Điều trị bệnh tự kỷ như thế nào?

Bệnh tự kỷ có diễn biến khá phức tạp, nếu bệnh không kiểm soát được thì có thể tiềm tàng nhiều nguy cơ nguy hiểm. Vậy các phương pháp điều trị, phòng ngừa bệnh tự kỷ hiện nay như thế nào?

4.1. Mục tiêu điều trị

Chúng ta không được kỳ vọng 100% vào việc điều trị bệnh tự kỷ. Thông thường các chuyên gia tâm lý sẽ điều trị bệnh theo 2 mục tiêu chính như sau:

Các liệu pháp điều trị đều nhằm tới mục đích giúp tăng các hành vi xã hội ở trẻ, giảm các triệu chứng hành vi lạ và gia tăng khả năng giao tiếp ngôn ngữ và học tập.

Làm hạn chế các hành vi gây rối của trẻ mà có thể trở nên tệ hại hơn trong quá trình di chuyển và ở các môi trường khác: trường học, công viên,…

4.2. Nguyên tắc điều trị trẻ tự kỷ

Nguyên tắc khi điều trị trẻ tự kỷ
Nguyên tắc khi điều trị trẻ tự kỷ

Để đạt được các mục tiêu điều trị thì khi tiến hành can thiệp tâm lý cho bệnh nhân, cần dựa trên một số nguyên tắc như sau:

  • Trẻ cần được phát hiện sớm, có các phương án can thiệp kịp thời và toàn diện.
  • Cần nâng cao kỹ năng xã hội cho trẻ
  • Cha mẹ, người chăm sóc cần tạo cho trẻ môi trường sống thích hợp
  • Các phương pháp can thiệp phải dựa trên học thuyết nhận thức và hành vi, sử dụng các phương tiện thị giác để dạy trẻ.
  • Chương trình giáo dục được áp dụng cho trẻ càng sớm càng tốt, tốt nhất ở giai đoạn: 2-4 tuổi

Hiện nay, vẫn chưa có thuốc đặc hiệu điều trị bệnh tự kỷ. Mục tiêu của việc sử dụng thuốc là để giúp: điều chỉnh các hành vi và cảm xúc của bệnh nhân, làm tăng khả năng tập trung, cải thiện trí nhớ cho trẻ để tạo điều kiện và tối ưu hóa cho sự tiếp nhận các phương pháp can thiệp khác trên trẻ, từ đó cải thiện được chất lượng cuộc sống của trẻ và gia đình.

Mặc dù, các thuốc điều trị tự kỷ vẫn chưa được tìm ra nhưng không thể phủ nhận hiệu quả của các phương pháp can thiệp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng ở trẻ tự kỷ. Một số phương pháp đó là:

4.3. Trị liệu ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ tự kỷ

Trẻ tự kỷ sẽ được huấn luyện về kỹ năng giao tiếp sớm thông qua các kỹ năng cụ thể như: kỹ năng bắt chước, kỹ năng tập trung, kỹ năng chơi đùa, kỹ năng xã hội và các kỹ năng giao tiếp bằng cử chỉ, tranh ảnh.

Bên cạnh đó, trẻ cũng sẽ được huấn luyện các kỹ năng ngôn ngữ: kỹ năng hiểu ngôn ngữ, kỹ năng dùng ngôn ngữ để diễn đạt.

Phương pháp can thiệp này được áp dụng càng sớm sẽ đem lại hiệu quả càng cao.

4.4. Phương pháp hoạt động trị liệu

Các hoạt động trị liệu là kỹ năng vận động tinh liên quan đến các cử động nhỏ, linh hoạt của bàn tay, cổ tay, ngón tay, ngón chân, môi và lưỡi bao gồm:

  • Giúp trẻ có các kỹ năng trong sinh hoạt thường ngày như: kỹ năng ăn uống, tắm rửa, đánh răng, chải tóc, mặc quần áo, đi giầy và tất, đi vệ sinh, …
  • Giúp trẻ có các hoạt động sử dụng sự tinh tế của bàn tay: cầm các vật nhỏ, tô màu, vẽ, viết, dùng kéo cắt, dán, …

4.5. Phương pháp chơi trị liệu

Điều trị bệnh tự kỷ cho trẻ bằng cách cho trẻ tiếp xúc và chơi cùng các bạn theo từng nhóm nhỏ
Điều trị bệnh tự kỷ cho trẻ bằng cách cho trẻ tiếp xúc và chơi cùng các bạn theo từng nhóm nhỏ

Điều trị bệnh tự kỷ cho trẻ bằng cách cho trẻ tiếp xúc và chơi cùng các bạn theo từng nhóm nhỏ

Các phương pháp này giúp trẻ có kỹ năng hoạt động nhóm, giao tiếp ngôn ngữ linh hoạt.

  • Cho trẻ tiếp xúc và chơi cùng các bạn theo từng nhóm nhỏ: đôi khi vì bị hạn chế về các kỹ năng mềm nên trẻ cần được tiếp xúc với nhiều bạn bè hơn. Xây dựng kỹ năng về việc xây dựng, giao lưu, và từ đó có thể giúp cho trẻ tự kỷ thoải mái hơn, mở lòng hơn với một nhóm bạn thay vì khép kín một mình. Có thể cho trẻ chơi cùng nhau theo các chủ đề thân thuộc dưới sự hướng dẫn và hỗ trợ của các cô giáo có kinh nghiệm trong việc nuôi dạy trẻ.
  • Cho trẻ hoạt động và chơi với nhóm bạn lớn hơn: cách này sẽ giúp trẻ thỉai mái hơn trong việc làm quen với các bạn, hiểu thêm về cách chơi các trò chơi, hình thành và nâng cao các kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống và từ đó giúp cho trẻ có thể phát triển hơn các kỹ năng cá nhân.
  • Chơi với người lớn: ngoài chơi với những trẻ cùng độ tuổi. Chơi nhiều với người lớn cũng mang lại hiệu quả khá tốt cho trẻ. Người lớn có thể vừa chơi, vừa hỗ trợ trẻ học hỏi thêm các kỹ năng cần thiết cơ bản. Ngoài ra người thân thường xuyên chơi với trẻ cũng sẽ giúp cho trẻ cảm thấy ấm áp và được yêu thương hơn. Giúp tâm lý của trẻ ổn định hơn.

4.6. Các phương pháp điều trị hỗ trợ khác

  • Tri liệu tâm lý:

Hầu hết các trẻ mắc tự kỉ đều có ít nhiều cảm giác lo sợ, rụt rè với thế giới xung quanh, đặc biệt là đối với những đồ vật mới, người lạ hoặc hoàn cảnh mới lạ. Chính nỗi lo sợ này sẽ khiến cho trẻ càng ngày càng xa lánh với thế giới quanh mình và thu mình vào thế giới của riêng chúng, do chúng tự tạo ra, làm bệnh ngày càng tiến triển nặng hơn.

Do vậy, các hoạt động trị liệu tâm lý là rất cần thiết, giúp trẻ tiếp cận với thế giới đồ vật và đồ chơi một cách an toàn, từ đó giúp trẻ tự tin hòa mình vào cuộc sống, khám phá những điều mới mẻ. Các chuyên gia về tâm lý sẽ cùng đồng hành, làm việc với trẻ từ 1-2 lần/tuần, mỗi lần khoảng 45 phút,điều đó sẽ hỗ trợ cải thiện tâm lý của trẻ tốt hơn.

  • Thủy trị liệu:

Nước cũng là một yếu tố có thể mang lại ảnh hưởng tích cực đến sự kích thích các giác quan của những đứa trẻ tự kỷ. Nước có thể tạo cho trẻ cảm thấy an toàn và bình tĩnh. Vì vậy, trong điều trị bệnh tự kỷ thì từ lâu thủy trị liệu đã trở thành một phương pháp hỗ trợ rất tích cực. Thuỷ trị liệu sẽ giúp cho trẻ giảm bớt các gánh nặng tâm lý, các căng thẳng, các hành vi tiêu cực không mong muốn, tăng kỹ năng tương tác và giao tiếp của trẻ.

Thủy trị liệu có thể được thực hiện 2 tuần mỗi lần, mỗi lần khoảng 30 phút. (Lưu ý: nhiệt độ của nước phải phù hợp, không được quá nóng, cũng không được quá lạnh vì nhiệt độ không phù hợp sẽ tác động không tốt lên trẻ, khiến cho trẻ càng thêm sợ hãi).

  • Âm nhạc trị liệu:

Mục đích của việc sử dụng âm nhạc trong điều trị chính là giúp gắn kết đứa trẻ tự kỷ vào trong việc hình thành tương tác, hình thành sự mong muốn giao tiếp của trẻ cùng với những người khác. Âm nhạc còn có thể được áp dụng vào trong các hoạt động vui chơi, các hoạt động của trẻ để có thể phát huy hết tác dụng.

Trong mỗi buổi trị liệu, trẻ sẽ được nghe từ hai đến ba bài hát có các nội dung học hoặc các hoạt động vui chơi. Phương pháp này có thể được áp dụng linh hoạt từ 2-3 lần/tuần. Ngoài ra, khi hoạt động cùng trẻ, người hỗ trợ có thể tập cho trẻ hát, tập các kỹ năng liên quan đến âm nhạc cho trẻ.

Người ta thấy rằng những trẻ bị tự kỷ sẽ có tiềm năng nghệ thuật rất cao, trong đó có âm nhạc.

Dùng âm nhạc để điều trị chứng tự kỷ ở trẻ nhỏ
Dùng âm nhạc để điều trị chứng tự kỷ ở trẻ nhỏ
  • Trị liệu điều hòa cảm giác:

Phương pháp điều hoà cảm xúc rất cần thiết và có giá trị. Cách này sẽ giúp cho những đứa trẻ tự kỷ hiểu hơn về cách sử dụng và cảm nhận vạn vật xung quanh bằng các giác quan của cơ thể, từ đó giúp làm tương tác của trẻ với các yếu tố môi trường xung quanh. Điều hòa cảm sẽ có thể thấy rõ hiệu quả ở những trẻ có tình trạng rối loạn xúc giác, thị giác, thính giác, mùi vị, sờ, thăng bằng.

  • Can thiệp ngoại trú:

Các bậc cha mẹ, người chăm sóc trẻ hoàn toàn có thể đồng hành cùng trẻ tại nhà với những hoạt động vô cùng bổ ích. Trẻ tự kỷ luôn lo lắng, sợ hãi vì vậy sự quan tâm, gần gũi với người thân, từ môi trường thân thuộc sẽ dễ tiếp cận, tác động tích cực lên trẻ. Cha mẹ nên cùng chơi, cùng hoạt động với con trong các công việc cá nhân, thường ngày và đặc biệt hạn chế tối đa việc trẻ làm bạn với các thiết bị công nghệ.

Ngoài ra, cha mẹ có thể tự tạo các trò chơi dạy con nhận biết, cảm nhận các sự vật, sự việc quanh mình, yêu cầu con thực hiện các hoạt động cơ bản như: tự đánh răng, tự xúc cơm, tự chải đầu, …. Quan trọng hơn cả là sự yêu thương, động viên, khích lệ những tiến bộ nhỏ nhất của con từ cha mẹ chính là nguồn cổ vũ tinh thần lớn lao giúp con hòa nhập, khám phá thế giới quanh mình.

5, Một số câu hỏi liên quan thường gặp

5.1. Bệnh tự kỷ có di truyền hay lây truyền không?

Bệnh tự kỷ là một bệnh tâm lý, trẻ bị tự kỷ hoàn toàn không có bất thường nào về kiểu gen hay các yếu tố di truyền. Bệnh không có khả năng di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và cũng không lây truyền từ những người xung quanh trẻ. Vì vậy các bạn hãy yên tâm không sợ bị ảnh hưởng nếu có ai đó xung quanh bị tự kỷ.

5.2. Trẻ mắc bệnh tự kỷ có thể đi học bình thường không?

Trẻ mắc bệnh tự kỷ hoàn toàn có thể đi học bình thường như các bạn đồng trang lứa khác với điều kiện trẻ chỉ mắc bệnh tự kỷ mức độ nhẹ hoặc vừa, trẻ được phát hiện bệnh sớm và can thiệp hỗ trợ sớm bằng các phương pháp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng. Khi được điều trị sớm, trẻ hoàn toàn có khả năng giao tiếp, vận dụng ngôn ngữ và các kỹ năng mềm, hoạt động học tập bình thường như những đứa trẻ khác.

Tuy nhiên, các bậc cha mẹ, thầy cô vẫn cần tiếp tục đồng hành cùng con trong suốt quá trình sinh hoạt cũng như học tập và luôn phải đảm bảo đưa trẻ đi tái khám định kỳ theo hẹn.

5.3. Trẻ chậm nói, chậm đi hơn các bạn khác có phải bị mắc bệnh tự kỷ không?

Trước hết, các bậc cha mẹ cần phải quan sát kĩ hơn xem con có các bất thường tâm lý nào khác không, đặc biệt là các bất thường về ngôn ngữ, giao tiếp, hành vi lặp đi lặp lại. Nếu có, thì các biểu hiện đó xuất hiện từ bao giờ, tần suất như nào. Tiếp theo cha mẹ cần phải đưa con đến ngay các cơ sở y tế, gặp các chuyên gia về tâm lý để được chẩn đoán rõ ràng hơn xem con có thực sự mắc tự kỉ hay không? Và con mắc tự kỷ ở giai đoạn nào? Nếu con đã mắc tự kỷ, cha mẹ cần chuẩn bị một tâm lý vững vàng để xác định đi cùng con một quãng đường rất dài và sau đó là tuân thủ theo phác đồ điều trị mà các chuyên gia đề ra.

Trẻ chậm nói, chậm đi hơn các bạn khác có phải bị mắc bệnh tự kỷ không?
Trẻ chậm nói, chậm đi hơn các bạn khác có phải bị mắc bệnh tự kỷ không?

5.4. Bệnh tự kỷ có khỏi hoàn toàn được không?

Các bệnh tâm lý nói chung và bệnh tự kỷ nói riêng rất khó điều trị và cũng rất ít khi khỏi hoàn toàn. Các biện pháp điều trị cũng chỉ là hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống cho trẻ. Việc điều trị khỏi hoàn toàn bệnh tự kỷ vẫn đang là một thử thách cho nền y học việt nam và thế giới.

Như vậy, chúng ta thấy rằng bệnh tự kỷ ở trẻ là một căn bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tinh thần, vận động ở trẻ, khiến trẻ khó hòa nhập, tiếp cận với thế giới quanh mình. Tuy nhiên, với sự quan tâm, gần gũi, quan sát từ các bậc phụ huynh, những người trông trẻ có thể giúp phát hiện bệnh từ rất sớm và can thiệp hiệu quả giúp cải thiện rất nhiều tới đời sống của trẻ. Hy vọng bài viết trên giúp cha mẹ có cái nhìn tổng quan nhất về bệnh tự kỷ, đặc biệt ở thời đại công nghệ số như ngày nay.

 

Ngày viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *