Tạo hình mũ âm vật theo chiều dọc (mũ âm vật dài)

Tạo hình mũ âm vật theo chiều dọc (mũ âm vật dài)

Tác giả: Lina Triana

Biên dịch: Thạc sĩ – Bác sĩ Nguyễn Đình Trung

nhathuocngocanh.com – Bài viết Tạo hình mũ âm vật theo chiều dọc (mũ âm vật dài) được trích trong chương 5 trong sách Phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ vùng kín phụ nữ.

Tạo hình mũ âm vật là thuật ngữ được sử dụng để mô tả tất cả các thủ thuật nhằm chỉnh sửa, loại bỏ vùng niêm mạc thừa ở mũ âm vật. Khi chúng ta điểm lại lịch sử, trong các thủ thuật thẩm mỹ vùng kín, thủ thuật được áp dụng phổ biến nhất là tạo hình môi âm hộ. Đây là các thủ thuật nhằm đơn thuần loại bỏ vùng niêm mạc thừa ở môi âm hộ mà không có can thiệp gì khác.

Khi các thủ thuật này dần trở nên phổ biến, các Bs phẫu thuật thẩm mỹ nhận thấy họ cần cần phải cải tiến những kỹ thuật hoặc tìm ra hướng đi mới cho những vấn đề nảy sinh. Họ nhận thấy sau khi tạo hình môi âm hộ, bệnh nhân thường quay lại phàn nàn về phần niêm mạc dư thừa ở các bộ phận khác và điều đó cũng làm họ khó chịu. Ví dụ điển hình là niêm mạc mũ âm vật, chúng thừa ra che mất âm vật, vừa làm mất tính thẩm mỹ lại vừa làm giảm khoái cảm mỗi khi quan hệ.

Chúng tôi đã từng gặp những trường hợp bệnh nhân sau làm thủ thuật giảm môi âm hộ, họ cho rằng trông họ không khác gì đang có 1 vẻ bề ngoài giống dương vật cả. Nhưng khi hỏi kỹ thì thực chất đó là phần niêm mạc mũ âm vật dư thừa, lúc này sẽ dài ra một cách tương đối, khiến họ nghĩ đó như dương vật vậy! Đây cũng là trăn trở cho những người làm thẩm mỹ, khi chúng tôi luôn tìm cách tối ưu hóa phương pháp điều trị của mình sao cho phù hợp với nhu cầu bệnh nhân. Từ đó chúng tôi thường xuyên kết hợp phẫu thuật giảm môi và chỉnh hình mũ âm vật với nhau, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc áp dụng cho tất cả các bệnh nhân. Chúng tôi nói điều này chỉ để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá và đưa ra phương pháp tối ưu trước phẫu thuật.Việc chỉnh hình mũ âm vật thường chỉ đơn giản là dùng các dụng cụ cắt để cắt đi phần niêm mạc thừa. Phương pháp này chỉ áp dụng cho những trường hợp dư niêm mạc ở mức độ nhẹ hoặc trung bình

Giải phẫu

Âm hộ và âm vật là 2 thành phần chính của cơ quan sinh dục ngoài nữ.Gò mu, môi lớn, môi bé, tiền đình âm đạo và hành âm đạo là các thành phần của âm hộ. Âm vật là cơ quan sinh dục chỉ có ở phụ nữ. Đây là 1 khối tròn nhìn thấy được, ngay cạnh điểm giao nhau của 2 môi bé, nằm phía trên lỗ niệu đạo và âm đạo. Nó thực chất là dương vật của nam giới nhưng bị thoái triển thành.

Ảnh. 5.1 Giải phẫu mũ âm vật
Ảnh. 5.1 Giải phẫu mũ âm vật

Thân âm vật dài khoảng 2.5 cm và gắn với xương mu bởi dây chằng treo âm vật. Phần dưới âm vật là một khối tròn, được gọi là quy đầu âm vật, được bao phía trên bởi mũ âm vật – điểm nối 2 đầu môi bé.

Mũ âm vật được hình thành bởi đoạn nối 2 mép môi bé ở phía trên. Ngay dưới mũ âm vật lần lượt là quy đầu âm vật và hãm âm vật. (hình 5.1)

Điểm giải phẫu mấu chốt ở đây là nơi vành mũ âm vật gắn với môi bé. Điểm này sẽ được mô tả kỹ ở phần dưới vì chúng đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện kỹ thuật này.

Đánh giá: Chỉnh hình mũ âm vật dài

Đầu tiên:Hỏi bệnh nhân về lý do tới phòng khám, nguyện vọng của họ. Tốt nhất, nên hỏi những câu hỏi này trước khi đưa cô ấy vào phòng thăm khám; điều này sẽ giúp bệnh nhân tự tin hơn để cởi mở nói chuyện cũng như sự hợp tác trong quá trình thăm khám, đặc biệt là các bộ phận nhạy cảm này.

Tiếp cận vấn đề:

Bệnh nhân sẽ cảm thấy khó chịu hoặc không hài lòng vì:

  • “Tôi không thích vẻ bề ngoài này, nó trông giống 1 phần thịt thừa ra mà chẳng có tác dụng gì!”
  • “Trông chúng giống như 1 cái dương vật ở giữa 2 môi âm hộ vậy!”
  • “Tôi sẽ thực sự hài lòng nếu như mũ âm vật kia đừng thò ra ngoài nữa!”
  • “Trông nó còn tồi tệ hơn trước khi tôi làm giảm môi âm hộ nữa!”
  • “Tôi thực sự không thích điều này. Đúng thật là tôi không thích chúng lắm nhưng sau khi làm thủ thuật giảm môi, trông nó còn kinh khủng hơn trước”

Những vấn đề về vệ sinh, mùi khó chịu:

  • “Có phải phần thịt thừa này gây ra mùi khó chịu hay không?”
  • “Tôi lo lắng vì mặc dù đã vệ sinh rất sạch sẽ, chúng cũng vẫn có mùi rất khó ngửi”.

Thứ hai:Hướng dẫn bệnh nhân của bạn vào phòng thăm khám, bộc lộ vùng khám, và nhớ hãy đánh giá tình trạng âm hộ ở tư thế đứng trước khi để cô ấy nằm lên bàn khám. Sau khi nằm, hãy đặt 1 chiếc gương ở dưới để họ có thể nhìn thấy vùng kín cũng như mô tả cho Bs thật kỹ những gì làm họ khó chịu.

Đánh giá triệu chứng:

Mũ âm vật:

  • Dịch tiết tích tụ ở dưới mũ âm vật, cạnh hãm âm vật và quy đầu âm vật
  • Phần niêm mạc mũ âm vật bị thừa ra
  • Phần này có thể dài ra (theo chiều dọc) hoặc to ra (theo chiều ngang) (Hình. 5.2)
Ảnh. 5.2 (a) Mũ âm vật dài theo chiều dọc. (b) Tách mũ âm vật sang hai bên để đánh giá chiều dọc (dài ra). (c) Căng mũ âm vật về 2 phía trên dưới để đánh giá chiều ngang (to ra)
Ảnh. 5.2 (a) Mũ âm vật dài theo chiều dọc. (b) Tách mũ âm vật sang hai bên để đánh giá chiều dọc (dài ra). (c) Căng mũ âm vật về 2 phía trên dưới để đánh giá chiều ngang (to ra)

Điểm bám mũ âm vật với mép môi bé:

Điểm bám này càng cao, trông sẽ càng thẩm mỹ. Câu hỏi đặt ra:

  • Vị trí hãm âm vật?
  • Điểm bám mũ âm vật với môi bé?
    • Có quá thấp không?
    • Điểm bám đó có ngang bằng với hãm âm vật hay không?

Ưu nhược điểm của kỹ thuật: Thông tin quan trọng

Luôn nhớ nên loại bỏ lượng niêm mạc dư thừa vừa đủ để sau phẫu thuật không tạo sẹo xấu, sẹo co kéo.

Ưu điểm

  • Lý tưởng trong trường hợp mũ âm vật dài.
  • Đường rạch đơn giản
  • Có thể dễ dàng kết hợp với phương pháp giảm môi âm hộ bằng kỹ thuật lazy S
  • Là cách tiếp cận tuyệt vời cho những bệnh nhân có mũ âm vật bám thấp.
  • Chỉnh hình mũ âm vật theo kiểu dọc thì dễ dàng chuyển sang chỉnh hình kiểu ngang nếu thấy cần thiết.

Nhược điểm

  • Nếu mũ âm vật to ngang, việc chỉnh hình bằng kỹ thuật này không khả thi.
  • Nếu mũ âm vật quá dài, có thể để lại vết sẹo dài sau khi phẫu thuật

Xét nghiệm tiền phẫu

  • Công thức máu
  • PT và aPTT
  • Creatinin
  • Xét nghiệm chuyên biệt khác, tùy theo bệnh lý kết hợp
  • Phết tế bào âm đạo.
  • Trong trường hợp kể trên, để đạt kết quả tốt chúng ta chỉ nên loại bỏ lượng niêm mạc vừa đủ để tránh tạo sẹo.

Lên kế hoạch phẫu thuật

Vô cảm

Gây tê cục bộ và/hoặc phong bế thần kinh thẹn đều có thể áp dụng. Nếu phong bế thì có thể dụng bộ kit chuyên dụng, nếu không có thì có thể dùng catheter Spinocath để tiêm tê dễ dàng hơn. Có thể gây mê toàn thân nhưng chỉ khi thật sự cần thiết.

Dụng cụ cắt

Thông tin quan trọng

Dụng cụ cắt tốt nhất là dao mổ số 11.

  • Dao tay hoặc dao điện
  • Sóng radio hoặc laser
  • Kéo

Sóng radio (cao tần) và laser không được khuyến khích khi áp dụng kỹ thuật này. vì chúng tỏa nhiệt nên có nguy cơ gây đau và tác động vào các bó dây thần kinh ở khu vực này. Chú ý: Chúng ta đang tiếp cận gần với âm vật, nên tốt nhất chỉ nên can thiệp tối thiểu. Để tạo đường rạch chính xác, dao mổ số 11 được ưa dùng. Kéo cũng có thể dùng nhưng dao thì có thể tạo ra đường cắt ngọt hơn ở vùng bờ mũ.

Chỉ khâu

  • Ban đầu tác giả sử dụng chỉ Vicryl nhưng đánh giá sau đó cho thấy bệnh nhân hay gặp dị ứng hoặc viêm tấy kéo dài, nên đã thử thay bằng chỉ cat-gut nhưng lại thấy hay bị tuột, đứt chỉ, nên hiện tại vẫn sử dụng loại Vicryl 4-0. Hoặc bất kỳ loại chỉ tự tiêu nào mà bạn có.

Mô tả kỹ thuật

Vô cảm

Thông tin quan trọng

Nên đánh dấu vùng phẫu thuật trước khi gây tê..

Tê cục bộ hoặc tê cục bộ + phong bế thần kinh thẹn. Mặc dù có thể gây tê cục bộ đơn thuần nhưng phong bế thần kinh thẹn giúp giảm đau sau mổ tốt hơn.

Gây tê cục bộ

Hãy đánh dấu vùng phẫu thuật trước khi gây tê cục bộ vì sau tê, các mốc giải phẫu có thể thay đổi, dẫn tới đường cắt không đúng như dự tính.

Phong bế thần kinh thẹn

Thông tin quan trọng

Hãy chú ý đối với những bệnh nhân gầy, 5ml bupivacaine là bình thường nhưng với họ có thể gây yếu chi tạm thời.

Tối ưu là sử dụng bộ kit phong bế thần kinh thẹn, nếu không có có thể sử dụng catheter Spinocath để tiêm tê.

  • Dụng cụ bảo vệ kim của bộ kit được đưa vào bên trong âm đạo, hướng về phía thành sau bên, nơi có thể sờ thấy gai ngồi.
  • Thuốc tê: 10 ml bupivacaine nguyên chất + epinephrine (5ml mỗi bên)
  • Luôn luôn hút trước khi tiêm, phải nhớ rằng động mạch thẹn chạy rất gần thần kinh thẹn.

Đánh dấu vùng phẫu thuật

Bước 1

Đánh dấu đường thẳng chia đôi mũ âm vật theo chiều dọc, kéo dài từ mép môi trên tới quy đầu âm vật (Ảnh 5.3)

Ảnh. 5.3 Đánh dấu đường giữa chia đôi mũ âm vật theo chiều dọc
Ảnh. 5.3 Đánh dấu đường giữa chia đôi mũ âm vật theo chiều dọc

Bước 2

Xác định điểm bám vành mũ âm vật với môi bé. Luôn luôn đánh dấu trước khi gây tê. Mỗi bên cầm 1 kẹp phẫu tích, cặp 1 bên là môi bé, 1 bên là mũ âm vật và kéo nhẹ về 2 phía để tìm đúng vị trí mũ âm vật gắn với môi bé (Hình 5.4)

Bước 3

So sánh vị trí mũ âm vật gắn với môi bé ở 2 bên.

Đánh dấu điểm bám ở hai bên, và có thể 2 điểm bám này không đối xứng nhau.

Bước 4

So sánh điểm bám của mũ âm vật với môi bé qua mốc là hãm âm vật, đánh giá mức độ lệch của 2 điểm bám để quyết định xem có thể chỉnh hình cân đối không (cắt phần niêm mạc dư thừa ở 1 bên bám thấp để cân đối với bên còn lại).

Bước 5

Thông tin quan trọng

Điểm bám càng cao, tính thẩm mỹ càng cao.

Ảnh. 5.4 Dùng kỹ thuật như đã đề cập ở chương 4 để xác định điểm bám của vành mũ âm vật với môi bé.
Ảnh. 5.4 Dùng kỹ thuật như đã đề cập ở chương 4 để xác định điểm bám của vành mũ âm vật với môi bé.

Đánh giá độ bám của mũ âm vật có vượt quá 1/3 trên môi bé hay không.

Xác định vị trí hãm âm vật và coi đó là mốc để đánh giá độ bám của vành mũ âm vật. Nếu điểm bám quá thấp, Bs phải lên kế hoạch cắt bỏ phần dư để tạo điểm bám cao hơn trước khi áp dụng kỹ thuật này.

Luôn luôn đánh dấu điểm bám theo giải phẫu và điểm bám hiện tại để xác định độ chênh lệch trước khi gây tê, các mốc giải phẫu này sẽ thay đổi khá nhiều khi bắt đầu ngấm thuốc tê (Hình 5.5).

Bước 6

Đánh dấu phần niêm mạc dư thừa. Cách đơn giản nhất để đánh dấu phần dư của mũ âm vật là sử dụng kìm phẫu tích để gắp phần thừa, cách này giống với việc bs dùng kìm phẫu tích để đánh dấu vùng phẫu thuật mi dưới trong tạo hình mi. (Hình 5.6)

Mô tả phương pháp khâu nối

Thông tin quan trọng

Luôn nhìn vào đường giữa đã được đánh dấu trước đó và đảm bảo rằng nó luôn nằm đúng vị trí khi dùng kẹp Kelly thẳng đặt lên vùng niêm mạch thừa theo chiều dọc của mũ âm vật.

Ảnh. 5.5 Sự bất cân đối trong điểm bám của vành mũ âm vật với môi bé và điểm đánh dấu cao hơn là vị trí lý tưởng cho điểm bám mới
Ảnh. 5.5 Sự bất cân đối trong điểm bám của vành mũ âm vật với môi bé và điểm đánh dấu cao hơn là vị trí lý tưởng cho điểm bám mới
Ảnh. 5.6 Đánh dấu phần niêm mạc dư thừa theo chiều dọc, một kìm phẫu thích thằng được đặt ở sát vùng cần đánh dấu để phân định 2 khu vực cắt-không cắt.
Ảnh. 5.6 Đánh dấu phần niêm mạc dư thừa theo chiều dọc, một kìm phẫu thích thằng được đặt ở sát vùng cần đánh dấu để phân định 2 khu vực cắt-không cắt.

Bước 1

Đặt 1 kìm Kelly ngay trên vị trí đánh dấu vùng niêm mạc thừa. Hãy chắc chắn rằng đường giữa vẫn ở đúng vị trí ban đầu trong toàn bộ quá trình cắt.

Bước 2

Sử dụng dao số 11 cắt phần thừa đã đánh dấu. Đưa dao sát với kìm Kelly để tạo đường cắt ngọt (Hình 5.7)

Sau đó cầm máu tối đa. Hãy nhớ rằng khu vực này có rất nhiều bó thần kinh cảm giác và không ai muốn tổn hại đến chúng cả.

Ảnh. 5.7 Cắt bỏ phần niêm mạc thừa bằng dao số 11.
Ảnh. 5.7 Cắt bỏ phần niêm mạc thừa bằng dao số 11.

Đường khâu

Thông tin quan trọng

Mũi khâu quyết định là mũi khâu nối lại 2 cấu trúc: môi bé và mũ âm vật.

Khâu nối mũ âm vật với môi bé

Giờ đây, bác sĩ phẫu thuật có thể nhận ra lý do tại sao việc đánh dấu trước đó của vị trí bám hiện tại và lý tưởng của mũ âm vật với môi bé lại quan trọng đến vậy, vì nếu không đánh dấu trước khi cắt, chúng ta sẽ không xác định được vị trí bắt đầu cắt và kết thúc đường cắt, dẫn tới khi khâu nối lại sẽ ảnh hưởng tới thẩm mỹ, thậm chí có thể gây ra sẹo co kéo.

Bước đầu tiên trong quá trình khâu là việc khâu nối mũ âm vật vào môi bé. Thủ thuật này sử dụng mũi khâu qua 3 điểm (three-point suture) – cũng được gọi với tên mũi khâu vạt – nối giữa vùng tiếp giáp của mũ âm vật với môi bé.

Mũi khâu 3 điểm này đưa kim xuất phát từ đường viền niêm mạc phía trong của môi bé, tiếp tới đưa kim qua mũ âm vật và kết thúc tại đường viền niêm mạc phía ngoài. Sau mũi khâu này thì toàn bộ đường viền niêm mạc của môi bé sẽ được khâu gắn với mũ âm vật (Ảnh. 5.8).

Mũi khâu dùng chỉ tự tiêu. Ở đây tác giả khuyên dùng chỉ Vicryl 4-0

Điều quan trọng ở đây là không được kéo hoặc siết chỉ mũi khâu. Lựa chọn của tác giá là dùng mũi khâu vắt nhưng không siết chỉ. Giải thích cho điều này, mối khâu siết chỉ có thể tạo sẹo xấu sau liền.

Ảnh. 5.8 Mũi khâu 3 điểm được sử dụng để khâu nối mũ âm vật với môi bé
Ảnh. 5.8 Mũi khâu 3 điểm được sử dụng để khâu nối mũ âm vật với môi bé

Chăm sóc sau phẫu thuật

Chỉ sử dụng kháng sinh dự phòng.

Sử dụng thêm thuốc giảm đau đường uống ngay sau phẫu thuật.

Bệnh nhân được khuyên nên giữ vùng phẫu thuật khô ráo nhất có thể. Sử dụng hơi nóng tại khu vực này có thể giúp giảm phản ứng viêm.

Bệnh nhân phải mặc quần lót chất liệu 100% cotton trong 8 ngày sau đó và không được mặc quần ngoài chật.

Mối chỉ phải được cắt sớm nhất có thể, thông thường khoảng 6-8 ngày sau phẫu thuật. Cắt chỉ sớm có thể giúp làm giảm viên và giảm nguy cơ để lại vết sau cắt chỉ.

Tập luyện và quan hệ tình dục có thể bắt đầu lại sau 2-4 tuần sau phẫu thuật.

Phòng tránh biến chứng

Thông tin quan trọng

Nếu không được đánh dấu trước khi khâu nối, sẽ rất khó khăn trong việc phục hồi cấu trúc giải phẫu ở vùng bờ tự do niêm mạc.

Những điều cần giải thích với bệnh nhân:

  • Không nên hi vọng cắt bỏ được toàn bộ phần dư thừa niêm mạc như ý muốn, đặc biệt khi áp dụng kỹ thuật này.
  • Không nên kỳ vọng môi lớn sẽ bao phủ được toàn bộ mũ âm vật, điều này là không thể đặc biệt với bệnh nhân có âm vật lớn.

Đánh giá sau phẫu thuật (quan trọng)

  • Luôn cắt phần dư thừa của mũ âm vật khi có thể. Nếu không, bệnh nhân có thể không hài lòng với kết quả.
  • Kỹ thuật này chỉ có thể áp dụng ở trường hợp bệnh nhân thừa da ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, nhưng khi tình trạng đã quá nặng, nên áp dụng kỹ thuật cắt hình móng ngựa (sẽ đề cập ở chương sau).

Luôn chú ý tới việc đánh dấu đường mổ

  • Đánh dấu vùng phẫu thuật trước khi gây tê.
  • Đánh dấu đường cắt giữa môi bé và mũ âm vật trước khi cắt.
  • Luôn luôn đánh dấu vị trí bám vành mũ âm vật 2 bên và dùng mốc là hãm âm vật để so sánh mức chênh, từ đó đưa ra phương pháp phẫu thuật phù hợp

Vô cảm

  • Việc sử dụng 5 ml bupivacaine để phong bế thần kinh thẹn có thể gây ra yếu chi tạm thời ở bệnh nhân gầy.

Đường cắt (mũ âm vật với môi bé)

  • Hãy cố gắng chỉnh hình cho 2 bên mũ âm vật cân đối, nhưng không kỳ vọng cân đối 100%.
  • Nếu điểm bám quá thấp, luôn luôn đưa ra kế hoạch ‘nâng cao’ điểm bám trước khi thực hiện các kỹ thuật khác.

Chú ý khi khâu

  • Sử dụng mũi khâu liên tục nhưng không siết chỉ.
  • Chỉ tiếp cận vùng bờ tự do, không thắt các mối khâu quá mạnh để gây đứt rách niêm mạc hoặc tạo sẹo xấu
  • Cắt chỉ sau 6-8 ngày.

Chăm sóc hậu phẫu

  • Giữ vùng sinh dục khô ráo sau phẫu thuật
  • Cắt chỉ sớm nhất có thể.

Biến chứng

Lên kế hoạch không đầy đủ

  • Nên cắt bỏ phần mũ âm vật thừa khi có thể, vì thường bệnh nhân sau khi được thực hiện kỹ thuật giảm môi âm đạo sẽ thấy mình có phần da thừa trông giống dương vật!
  • Chú ý luôn phải đánh dấu trước khi thực hiện bất kì đường cắt nào.

Sẹo

Cố gắng định vị đường mổ để vết sẹo nằm dọc trên vùng chuyển tiếp giữa da và niêm mạc để có thể khéo léo giấu đường phẫu thuật dưới các nếp tự

Nếu phần mũ âm vật dài ra quá nhiều, không nên áp dụng kỹ thuật này. Cố tình làm có thể để lại sẹo trên môi lớn hoặc da vùng mu.

Không cân đối

  • Điều này có thể xảy ra khi bạn cắt bỏ 1 bên da thừa quá nhiều.
  • Để tránh trường hợp này xảy ra, hãy chắc chắn rằng đường kéo đi đúng với đường đã đánh dấu.
  • Giải quyết mô sẹo
  • Trong phần lớn các trường hợp tạo hình môi âm hộ, hầu hết chúng thường được ‘nâng cao’ điểm bám, vì thế tăng nguy cơ tạo sẹo ở gần hãm âm vật, và có thể gây co kéo quy đầu âm vật.
  • Để phòng tránh biến chứng này, không nên cố gắng đưa điểm bám mũ âm vật lên cao hơn vị trí giao thoa của hãm âm vật với môi bé.
Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here