Tiên đoán nguy cơ nhau cài răng lược

Enter your keyword

Tiên đoán nguy cơ nhau cài răng lược
5 (100%) 1 vote

Dấu bắt chéo trong siêu âm ở các trường hợp thai làm tổ trên sẹo mổ cũ giúp tiên đoán nguy cơ nhau cài răng lược

Một nghiên cứu hồi cứu hàng loạt ca mới phát hiện ra rằng siêu âm trong tam cá nguyệt thứ nhất để đánh giá mối liên hệ giữa túi thai và lớp nội mạc tử cung ở các thai phụ có sẹo mổ lấy thai cũ (Cesarean scar pregnancy – CSP) sẽ giúp tiên đoán sự phát triển của nhau thai xâm lấn bất thường (Abnormally invasive placenta – AIP), hay còn gọi là nhau cài răng lược, cũng như bệnh suất trong và sau phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu được đăng trên Tạp Chí của Hội Siêu Âm Quốc Tế Phụ Sản (International Society of Utrasound in Obstetrics and Gynecology).

nguy cơ nhau cài tăng lược

Những tiến bộ gần đây trong hình ảnh học tiền sản và sự gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai đã dẫn tới tỉ lệ được chẩn đoán thai làm tổ trên sẹo mổ lấy thai cũ (CSP) gia tăng. Nhiều trường hợp CSP đều có tình trạng xuất huyết nghiêm trọng hoặc vỡ tử cung, đòi hỏi phải phẫu thuật khẩn cấp hoặc một số trường hợp khác lại có sự hiện diện của nhau cài răng lược.

Hiện nay vẫn chưa có bất kỳ dấu ấn đáng tin cậy nào giúp tiên đoán liệu một thai phụ với CSP sẽ chấm dứt thai kỳ do sinh non hay tiến triển thành một trường hợp nhau cài răng lược xuyên qua lớp cơ tử cung tới lớp thanh mạc (placenta percreta) hay tiến triển thành các trường hợp trầm trọng khác của AIP.

Dấu bắt chéo trong siêu âm (cross-over sign – COS)

Dấu bắt chéo trong siêu âm (cross-over sign – COS) gần đây được tin rằng có thể tiên đoán sự tiến triển của CSP thành các dạng AIP khác nhau, nhằm phân tầng nguy cơ trong và sau phẫu thuật.

Để đánh giá dấu bắt chéo trong siêu âm (COS), đầu tiên ta có một đường thẳng tưởng tượng được vẽ từ mặt trong cổ tử cung đến đáy tử cung ở mặt phẳng cắt dọc. Qua đó xác định được túi thai và đo đường kính trên dưới của túi thai vuông góc với đường thẳng cắt dọc được vẽ trước đó. COS được phân loại dựa trên mối liên quan giữa đường kính túi thai ngoài tử cung với đường thẳng cắt dọc xuyên qua lớp nội mạc thành hai loại: COS-1 và COS-2. COS-1 là khi túi thai làm tổ trên sẹo mổ cũ và ít nhất 2/3 đường kính trên dưới của túi thai nằm phía trên lớp nội mạc tử cung hướng về phía thành trước tử cung. COS-2 khi túi thai làm tổ trên sẹo mổ cũ và dưới 2/3 đường kính trên dưới nằm phía trên lớp nội mạc tử cung. Các trường hợp COS-2 được chia thành 2 phân nhóm nhỏ tùy vào sự hiện diện (COS-2+) hoặc không (COS-2-) của đường giao giữa đường kính trên dưới của túi thai ngoài tử cung và đường thẳng cắt dọc qua lớp nội mạc tử cung.

mang thai

Nghiên cứu này dựa trên 102 phụ nữ được chẩn đoán AIP từ 8 năm trở lên, các trường hợp này được chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm mô giải phẫu bệnh (Histopathological examination – HPE), trong số đó có 68 phụ nữ có siêu âm trong tam cá nguyệt thứ nhất được chẩn đoán CSP. Bác sĩ đọc kết quả siêu âm không được biết về kết cục thai kỳ cũng như báo cáo về bệnh học của bệnh nhân.

68 trường hợp trên được đánh giá COS và tư vấn thai kỳ dựa trên tiên lượng, yếu tố nguy cơ và biến chứng sau phẫu thuật. Phụ nữ có AIP nặng được tư vấn sinh sớm, với các trường hợp ít nặng nề hơn thì kết cục thai kỳ sẽ biến chuyển nhẹ hơn.

Tất cả các trường hợp AIP được phẫu thuật cắt bỏ tử cung, trước khi phẫu thuật được làm tắc nghẽn động mạch chậu trong tạm thời với một catheter có bóng và đặt stent đường niệu. Khi làm HPE, 34 trường hợp có nhau cài răng lược tới lớp thanh mạc (placenta percreta), 13 trường hợp với nhau xuyên qua toàn bộ lớp cơ tử cung (placenta increta) và 21 trường hợp với nhau xuyên qua một phần cơ tử cung (placenta accreta).

Bên cạnh đó, các trường hợp thai kỳ với COS-1 có kết cục sinh sớm, có thời gian phẫu thuật lâu hơn, mất máu nhiều hơn và cần phải truyền hồng cầu nhiều hơn trong phẫu thuật khi so sánh với những trường hợp thai kỳ với COS-2+ hoặc COS-2-.

Do đó, tiên đoán các trường hợp CSP bằng dấu COS vào tam cá nguyệt thứ nhất có thể hỗ trợ đưa ra quyết định cuối cùng giữa bệnh nhân và bác sĩ về những khó khăn tồn tại trong phẫu thuật, lượng máu mất và đòi hỏi phẫu thuật cắt tử cung.

BS. Lê Khắc Tiến – Bệnh viện Mỹ Đức.

Nguồn: Calì, G., Forlani, F., Minneci, G., Foti, F., Di Liberto, S., Familiari, A., Scambia, G. and D’Antonio, F., 2018. First‐trimester prediction of surgical outcome in abnormally invasive placenta using the cross‐over sign. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 51(2), pp.184-188.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *