Làm đầy rãnh môi – hàm bằng kỹ thuật tiêm chất làm đầy

Làm đầy rãnh môi - hàm bằng kỹ thuật tiêm chất làm đầy

Tác giả: Kyle K. Seo

nhathuocngocanh.com – Bài viết Làm đầy rãnh môi – hàm bằng kỹ thuật tiêm chất làm đầy được trích trong chương 4 trong sách Căng Da Mặt Với Chất Làm Đầy.

Mức độ khó: B

Hiệu quả: B

Biến chứng: B

Tóm tắt 1: Quá trình tiêm được thực hiện bằng ống thông 23-G × 5 cm / 27-G × 3 cm và chất làm đầy HA một pha có độ nhớt – đàn hồi cao.

Tóm tắt 2: Nếp gấp môi – hàm không chỉ đơn giản là một đường hoặc nếp nhăn lõm vào mà là cấu trúc đường cong ba chiều được tạo ra bởi sự chùng xuống của da má dưới hàm. Trong khi chính nếp gấp có thể được lấp đầy bằng chất làm đầy HA, phần chảy xuống và nhô ra của mỡ má tạo thành nếp gấp phải được giải quyết bằng cách sử dụng phương pháp điều trị hỗ trợ thích hợp.

Tóm tắt 3: Chất làm đầy HA được lắng đọng dọc theo vùng lõm dưới khóe miệng theo rãnh môi – hàm. Xét rằng chỗ lõm sâu nhất ở vùng ngay dưới khóe miệng cũng như dọc theo độ sâu của nếp gấp, nên nâng chủ yếu vào các khu vực này, với sự giảm dần thể tích tiêm về phía trong và dưới của rãnh môi – hàm. Mặt phẳng tiêm nằm nông phía trên DAO (cơ hạ góc miệng).

Tóm tắt 4: Khuyến nghị khôi phục thể tích đồng thời nếu có bất kỳ thiếu hụt thể tích nào ở má, nếp gấp mũi – môi, rãnh của hàm trước hoặc nếp gấp môi – hàm dưới.

Rãnh môi – hàm (Marionette lines) là những nếp gấp xiên kéo dài từ khóe miệng đến viền hàm dưới. Họ lấy tên này từ những con rối dây marionette trong nghệ thuật múa rối châu Âu với các đường rãnh có thể nhìn thấy chạy xuống từ góc miệng để cho phép cử động hàm. Tương tự như nếp nhăn mũi – môi, rãnh môi – hàm không chỉ đơn giản là một nếp gấp hoặc một đường lõm vào trong mà là cấu trúc ba chiều được tạo ra bởi sự chùng xuống của da má dưới hàm và chảy xệ của túi mỡ má. Sự co lại lặp đi lặp lại của DAO (cơ hạ góc miệng) Và cơ bám da cổ kéo các góc miệng xuống dưới tạo ra các rãnh môi – hàm tĩnh ở đó. Tóm lại, các rãnh môi – hàm là kết quả của nhiều nguyên nhân; do đó, mỗi nguyên nhân nên được tiếp cận riêng lẻ để đạt được kết quả hiệu quả nhất (Hình 4.101).

Hình 4.101 (a, c) Trước và (b, d) sau khi điều trị rãnh môi - hàm. Hình 4.101 (a, c) Trước và (b, d) sau khi điều trị rãnh môi – hàm.

Cân nhắc giải phẫu

Rãnh môi – hàm là do sự chảy xệ của mỡ hàm dưới nông và túi mỡ má sâu được giữ bởi modiolus (trụ xơ -cơ), cơ cười và dây chằng xương hàm dưới, có chức năng neo giữ và hạn chế các cấu trúc chảy xệ này khỏi bị tụt xuống hơn nữa. Sự dịch chuyển xuống dưới của da thừa ở má và các túi mỡ má bên dưới theo tuổi tác dẫn đến sự kéo dài và sâu hơn của Rãnh môi – hàm cũng như sự hình thành của da má hàm dưới chảy xệ và rãnh trước hàm dưới (pre-jowl sulcus), tạo ra đường lún vào ở đường viền hàm xuất hiện phía trước jowl (má hàm dưới). Một nguyên nhân khác của các Rãnh môi – hàm là sự co lại lặp đi lặp lại của DAO và cơ bám da cổ liên tục kéo các góc miệng xuống dưới và ra ngoài, làm cho các Rãnh môi – hàm tĩnh sâu hơn theo thời gian. Khi điều trị các Rãnh môi – hàm, sử dụng ống thông được ưu tiên hơn kim tiêm vì động mạch mặt chạy lên phía trên về phía nếp gấp mũi – môi rồi sinh ra động mạch môi dưới dưới ở bên dưới môi dưới đến Rãnh môi – hàm (Hình 4,92) [32].

Modiolus và rãnh môi – hàm

Thuật ngữ trụ xơ – cơ “modiolus” có nguồn gốc từ tiếng Latinh và có nghĩa là “trục bánh xe”. Về mặt mô học, trụ xơ -cơ là một cấu trúc nhỏ, dày và đặc. Như cái tên của mình, nó là một điểm hội tụ của các cơ biểu cảm khác nhau trên khuôn mặt gần góc miệng [33] (Hình 4.102). Việc gắn các cơ gò má lớn, cơ hạ góc miệng, cơ nâng góc miệng, cơ hạ môi dưới, cơ vòng miệng, cơ cười, và cơ mút vào modiolus đóng một vai trò quan trọng không chỉ trong sự phát triển của các nếp gấp mũi – môi và các rãnh môi – hàm mà còn trong tính sinh động của các biểu hiện trên khuôn mặt ở vùng quanh miệng để truyền tải các cảm xúc khác nhau như niềm vui và nỗi buồn. Trong khi modi-olus thường nằm trên đường ngang nối hai điểm ngoài cùng (intercheilion horizontal line) ở góc môi ở người da trắng (66%), modiolus ở người châu Á thường nằm bên dưới đường này (58.4%) và có thể nhìn thấy bằng mắt thường ở 21,4% dân số [34](Hình 4.103). Có lẽ, điều này giải thích tại sao người châu Á lại có thể có các rãnh môi – hàm ngay cả khi họ còn ở độ tuổi thiếu niên và đôi mươi. Mất thể tích ở má góp phần làm tăng độ nổi của modiolus. Là một nốt gân với các sợi collagen dày đặc, khả năng hiển thị của modiolus có thể làm khuôn mặt của những người có vùng má dưới hàm hơi đầy đặn trông già hơn bằng cách làm hiện rõ các rãnh môi hàm và da má dưới hàm chảy xệ do lão hóa.

Hình 4.102 Modiolus. Cấu trúc trong vòng tròn màu xanh đại diện cho nốt gân nằm ở trung tâm của Modiolus. Để làm rõ nốt gân, LAO và cơ cười được gấp lại để mở sang bên giữa. (OO cơ vòng miệng, Zmj cơ gò má lớn, Buc cơ mút, R cơ cười, LAO cơ nâng góc miệng, DAO cơ hạ góc miệng, DLI cơ hạ môi dưới). Hình 4.102 Modiolus. Cấu trúc trong vòng tròn màu xanh đại diện cho nốt gân nằm ở trung tâm của Modiolus. Để làm rõ nốt gân, LAO và cơ cười được gấp lại để mở sang bên giữa. (OO cơ vòng miệng, Zmj cơ gò má lớn, Buc cơ mút, R cơ cười, LAO cơ nâng góc miệng, DAO cơ hạ góc miệng, DLI cơ hạ môi dưới). Hình 4.103 Vị trí của modiolus bằng cách tham chiếu đến đường ngang intercheilion nối hai điểm ngoài cùng ở góc môi. Loại A - Modiolus nằm ở phía bên của cheilion (điểm ngoài cùng ở góc môi) trên đường ngang intercheilion. Loại B -Modiolus nằm trên đường ngang intercheilion. Loại C - Modiolus nằm bên dưới đường ngang intercheilion (OOr cơ vòng miệng, DAO cơ hạ góc môi, R cơ cười, Zmj cơ gò má lớn, Zmi cơ gò má nhỏ, LAO cơ nâng góc môi). Hình 4.103 Vị trí của modiolus bằng cách tham chiếu đến đường ngang intercheilion nối hai điểm ngoài cùng ở góc môi. Loại A – Modiolus nằm ở phía bên của cheilion (điểm ngoài cùng ở góc môi) trên đường ngang intercheilion. Loại B -Modiolus nằm trên đường ngang intercheilion. Loại C – Modiolus nằm bên dưới đường ngang intercheilion (OOr cơ vòng miệng, DAO cơ hạ góc môi, R cơ cười, Zmj cơ gò má lớn, Zmi cơ gò má nhỏ, LAO cơ nâng góc môi).

Đánh giá trước điều trị

Phải xác định được bất kỳ hõm má, nếp gấp mũi – môi, hoặc túi mỡ má nổi rõ ở các vùng lân cận để đảm bảo tổng thể khuôn mặt cân đối và hài hòa. Tốt hơn hết là nên phục hồi má bị lõm cùng với các rãnh môi – hàm, vì nếu chỉ chỉnh sửa rãnh môi – hàm có thể giúp làm nổi bật các hõm má. Nên chỉnh sửa đồng thời các nếp gấp mũi – môi khi các rãnh môi – hàm hợp lại với các nếp gấp này. Đối với những bệnh nhân có rãnh trước hàm dưới nặng, cũng nên đặt chất làm đầy HA dọc theo rãnh môi – hàm ở hai bên cằm để che đi vết lõm trước hàm dưới và làm thẳng đường viền hàm.Cũng nên cân nhắc việc chỉnh sửa đồng thời túi mỡ hàm dưới chùng xuống bằng cách sử dụng các phương thức điều trị khác như tiêm giảm mỡ hoặc hút mỡ cũng như các thiết bị năng lượng như sóng siêu âm cường độ cao (HIFU) hoặc nâng chỉ để nâng đỡ khuôn mặt chảy xệ.4.13.3 Kỹ thuật tiêm (Bảng 4.15)

Kỹ thuật làm đầy rãnh môi – hàm

Việc chỉnh sửa được thực hiện bằng cách sử dụng chất làm đầy HA một pha có độ nhớt – đàn hồi cao và ống thông 23-G 5 cm. Ống thông A25-G hoặc 27-G cũng có thể được sử dụng để thực hiện phân lớp kép ở lớp mỡ dưới da nông. Kim 30-G cũng có thể được sử dụng để tiêm chất làm đầy HA dưới da hoặc trong da ngay bên dưới khóe môi để đồng thời nâng khóe miệng bị tụt xuống (Hình 4.96). Sẽ rất hữu ích khi hình dung một không gian ba chiều theo hình dạng của một hình chóp tam giác với đáy là rãnh môi – hàm và với đỉnh chóp dưới nằm tại điểm mà rãnh môi – hàm giao với đường viền xương hàm dưới (Hình 4.104).Điểm vào của ống thông ở đỉnh của hình chóp (Hình 4.104). Chất làm đầy HA được lắng đọng trong khu vực lõm dưới khóe miệng dọc theo rãnh môi – hàm bằng cách sử dụng kỹ thuật phân luồng tuyến tính và tiêm hình nan quạt trong mặt phẳng sâu dưới da phía trên DAO (Hình 4.105). Vì chỗ lõm nghiêm trong nhất là phần đầu trên cùng của rãnh môi – hàm ngay dưới góc miệng và dọc theo chiều dài của rãnh này, nên việc tăng thể tích phải hướng chủ yếu vào các khu vực này với sự giảm dần thể tích về phía trong và phía dưới của rãnh môi – hàm. Ở những bệnh nhân có da má dưới hàm chảy xệ nghiêm trọng, mục tiêu nên là làm mờ sự xuất hiện của rãnh môi – hàm sâu hơn là làm đầy hoàn toàn nó vì việc san lấp hoàn toàn chỗ lõm có thể làm da má dưới hàm chảy xệ nổi rõ hơn và khiến khuôn mặt trở nên cau có vĩnh viễn.

Hình 4.104 (a) Điểm vào ống thông để điều trị rãnh môi - hàm (b) Sơ đồ làm đầy rãnh môi - hàm được so sánh như lấp đầy không gian ba chiều trong hình chóp tam giác. Hình 4.104 (a) Điểm vào ống thông để điều trị rãnh môi – hàm (b) Sơ đồ làm đầy rãnh môi – hàm được so sánh như lấp đầy không gian ba chiều trong hình chóp tam giác.

Bảng 4.15 Tóm tắt kỹ thuật tiêm chất làm đầy môi

Mục Nội dung
Kim và ống thông Ống thông 23-G 5 cm.

Ống thông 27-G 3 cm để hiệu chỉnh nông.

Kim 30-G để chỉnh sửa khóe miệng.

Chất làm đầy HA Chất làm đầy HA một pha với độ nhớt – đàn hồi cao.

Chất làm đầy HA một pha với độ nhớt – đàn hồi vừa phải để chỉnh sửa nông và chỉnh sửa khóe miệng.

Lượng chất làm đầy HA .5-2 mL mỗi bên.
Độ sâu tiêm Lớp dưới da sâu bên trên cơ DAO.

Lớp dưới da nông nếu cần thiết.

Điểm vào ống thông Giao điểm rãnh môi – hàm và đường viền xương hàm dưới.
Khu vực mục tiêu Vùng lõm dưới khóe miệng dọc theo rãnh môi – hàm.
Gây mê thuốc gây tê tại chỗ
Tay không thuận Kéo da xuống dưới và về sau để duy trì độ căng trên da.

Phần sâu của rãnh môi – hàm phải được lấp đầy đến 80–90% bằng cách sử dụng ống thông 23-G. Sau đó, các tinh chỉnh nông có thể được thực hiện trong lớp dưới da với một ống thông 27-G để hoàn thành việc điều trị. Kim 30G có thể được sử dụng để nâng góc miệng.

Lượng chất làm đầy HA tiêu chuẩn được tiêm là 0,5–1,5 mL mỗi bên, tùy thuộc vào độ sâu của rãnh môi – hàm. Việc sử dụng kem gây tê tại chỗ là đủ để làm tê vùng điều trị. Bàn tay không thuận được sử dụng để kéo căng da xuống dưới và ra ngoài trong khi tiêm để duy trì độ căng trên da và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiến đẩy của ống tiêm.

Điều trị kết hợp

Nên điều trị đồng thời khi có sự thiếu hụt thể tích ở các vùng lân cận, bao gồm các nếp gấp môi – hàm dưới, rãnh trước hàm dưới hoặc nếp gấp mũi – môi. Tuy nhiên, lưu ý rằng ở những bệnh nhân có da má dưới hàm chảy xệ quá nặng, chỉ nên điều trị rãnh trước hàm dưới với mục đích chỉnh sửa một chút, vì làm đầy quá mức rãnh trước hàm dưới ở những người này có thể làm biến dạng đường viền hàm, kh-iến nó có vẻ như nặng nề và hình chữ U. Đối với những bệnh nhân có mỡ má nổi rõ, nên thực hiện 2-3 đợt tiêm giảm mỡ cor-ticosteroid để có được vẻ ngoài săn chắc và tối ưu hơn. Đối với những người có da má hàm dưới chảy xệ nghiêm trọng, việc sử dụng kết hợp các phương pháp điều trị nâng cơ như HIFU hoặc nâng cơ bằng chỉ có thể được xem xét để làm căng khuôn mặt dưới bớt nặng nề hơn. Việc sử dụng kết hợp tiêm BoNT-A trong DAO cũng có thể được xem xét để cải thiện khóe miệng bị tụt xuống.

Hình 4.105 Độ sâu tiêm để điều trị rãnh môi - hàm. Hình 4.105 Độ sâu tiêm để điều trị rãnh môi – hàm.

Các biến chứng

Đường viền không đều: Các vết sưng tấy biến dạng ở dạng nút tròn có thể xảy ra theo thời gian dưới khóe miệng nơi các cơ quanh miệng hoạt động tích cực, do ban đầu đã đặt quá nhiều hoặc do nơi tiêm chất làm đầy HA đã tăng thể tích do hấp thụ nước sau đó.Lưu ý rằng khu vực dưới modiolus được đặc trưng bởi hoạt động cơ quanh miệng đáng kể. Sự co thắt chặt chẽ của cơ quanh miệng và thỉnh thoảng xuất hiện các lúm má trong khu vực này có thể ảnh hưởng đến chất làm đầy HA được tiêm như làm chất làm đầy kết tụ lại với nhau hoặc phân tách nó ra. Trong khi đó, việc chỉnh sửa hoàn toàn các rãnh môi – hàm ở những người có mỡ hàm dưới chảy xệ rõ rệt có thể làm da má hàm dưới chảy xệ trầm trọng hơn.

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here