Làm đầy môi bằng chất làm đầy: Kỹ thuật tiêm và các biến chứng

Làm đầy môi bằng chất làm đầy: Kỹ thuật tiêm và các biến chứng

Tác giả: Kyle K. Seo

nhathuocngocanh.com – Bài viết Làm đầy môi bằng chất làm đầy: Kỹ thuật tiêm và các biến chứng được trích trong chương 4 trong sách Căng Da Mặt Với Chất Làm Đầy.

Mức độ khó: B

Hiệu quả: A

Biến chứng: B

Tóm tắt 1: Dùng ống thông 27-G 3 cm hoặc kim 30-G. Mặt phẳng tiêm đích là lớp dưới da hoặc lớp dưới niêm mạc của niêm mạc khô. Điểm vào ống thông cách khóe miệng 0,3 cm. Chỉ sử dụng chất làm đầy HA một pha.

Tóm tắt 2: Môi không chỉ là một đơn vị dài đơn lẻ mà là tổng hợp các tiểu đơn vị giải phẫu khác nhau, bao gồm cả củ môi giữa và củ môi bên, phải được chú ý trong quá trình nâng bằng chất làm đầy HA.

Tóm tắt 3: Những thay đổi ở môi do lão hóa bao gồm mỏng môi, nhân trung kéo dài và viền môi mất độ cao. Theo tuổi tác, môi dưới dần dần cuộn vào trong, khóe miệng hướng xuống dưới và nhiều nếp nhăn hình thành ở vùng quanh miệng.

Tóm tắt 4: Điều quan trọng là phải đánh giá môi khi nhìn nghiêng trước khi tiêm, để kiểm tra xem có bất kỳ sự nhô ra quá mức nào của môi trên hay không. Bệnh nhân có môi trên nhô ra chỉ cần tiêm HA ở môi dưới. Tiêm không quá 2 mL mỗi phiên để tránh hiện tượng quá liều.

Đôi môi là tiêu điểm quan trọng của khuôn mặt, vì nó là phần duy nhất của khu-ôn mặt có màu đỏ. Ở châu Á, thành ngữ “môi đỏ răng trắng” theo truyền thống để chỉ vẻ đẹp khuôn mặt lý tưởng của phụ nữ. Đôi môi căng mọng đầy gợi cảm gắn liền với tuổi trẻ và sắc đẹp ở cả nam và nữ. Ngược lại, môi mỏng được coi là một đặc điểm lão hóa, điều này cũng tạo ra nét lạnh lùng và thờ ơ trên khuôn mặt. Làm đầy môi là phương pháp không chỉ để tạo thêm độ đầy đặn cho môi mà còn tạo sự cân đối giữa môi trên và môi dưới hoặc giữa môi trái và môi phải. Tóm lại, làm đầy môi không chỉ đóng vai trò là một công cụ làm đẹp để làm căng mọng và tái tạo đôi môi ở bệnh nhân trẻ mà còn là một công cụ trẻ hóa ở bệnh nhân lớn tuổi để giải quyết tình trạng mỏng môi cũng như chống lại những thay đổi hình thái khác xảy ra ở môi theo tuổi tác (Hình. 4,87).

Nhân trắc học của MôiVề mặt giải phẫu học, môi không chỉ giới hạn trong vùng niêm mạc đỏ, mà còn bao gồm phần môi đỏ hay phần thân môi và phần môi trắng hay vùng da xung quanh viền môi đỏ. Bên dưới môi trắng là cơ cho phép miệng thực hiện các chức năng như chu và mím môi. Khi so sánh với các điểm mốc liên quan trên khuôn mặt, môi kéo dài từ điểm dưới mũi bên trên xuống pogonion (điểm trước nhất trên đường viền ở cằm) bên dưới và đến các nếp gấp mũi – miệng ở hai bên. Ranh giới giữa môi đỏ và môi trắng được phân định bằng đường viền môi. Môi đỏ được chia thành niêm mạc khô ở bên ngoài và niêm mạc ướt ở bên trong (Hình 4.88).

Hình 4.87 (a, c, e) Trước và (b, d, f) sau khi làm đầy môi Hình 4.87 (a, c, e) Trước và (b, d, f) sau khi làm đầy môi Hình 4.88 Các mốc giải phẫu của môi. Hình 4.88 Các mốc giải phẫu của môi.

Kiến thức về tỷ lệ khuôn mặt thẩm mỹ là điều kiện tiên quyết để xác định hình dạng và kích thước lý tưởng của đôi môi và sự cân đối của chúng với phần còn lại của khuôn mặt. Tỷ lệ lý tưởng giữa khuôn mặt trên từ chân tóc đến ấn đường, khuôn mặt giữa từ ấn đường đến điểm dưới mũi và khuôn mặt dưới từ điểm dưới mũi đến gnathion (điểm thấp nhất giữa hàm dưới) được mô tả là 1: 1: 1 [28] (Hình 4.89). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng với thẩm mỹ của người châu Á, 1/3 dưới của khuôn mặt nên nhỏ hơn với tỷ lệ khuôn mặt lý tưởng là 1: 1: 0,8 [29]. Mặt dưới được chia thành ba phần bằng nhau, với tỷ lệ lý tưởng giữa khoảng cách từ điểm dưới mũi đến stomion (điểm chạm của môi trên và môi dưới) so với khoảng cách từ stomion đến gnathion được mô tả là 1: 2. Trong thẩm mỹ môi, môi dưới cũng nên dày hơn một chút so với môi trên, với tỷ lệ chiều cao lý tưởng giữa môi trên và môi dưới được mô tả là 2: 3 hoặc 1: 1,6 (π). Chiều rộng môi lý tưởng là điểm khóe miệng nằm chính xác trên đường trục giữa đồng tử. Khi nhìn nghiêng, có một số phân tích khuôn mặt giúp đánh giá độ cao tương đối của môi trên và môi dưới so với đường nét khuôn mặt, đặc biệt là mũi và cằm.Lý tưởng nhất là môi trên nên cao hơn môi dưới một chút khi nhìn nghiêng. Theo đó, dựa theo đường thẳng nối giữa điểm dưới mũi (subnasale) và pogonion, môi trên phải nhô ra 3,5 mm và môi dưới nhô ra 2 mm so với đường này (đường Sn-Pog ’của Bur-ston) (Hình 4.90). Dựa trên các phân tích nhân trắc học khác nhau, ngoại trừ ảnh hưởng của cằm nhô, môi trên phải nhô ra trước 1–2 mm so với đường thẳng đứng từ điểm dưới mũi (SnV) trong khi môi dưới phải nằm trên hoặc nhô ra trước 1 mm so với SnV (để loại trừ ảnh hưởng của cằm nhô ra). Pog ’ (pogonion) phải nằm trên đường tiếp tuyến môi trên và môi dưới (đường Riedel). Môi cũng nên ở phía sau đường nối Pog ’và điểm đỉnh mũi (Prona-sale, Prn) (Đường Ricketts). Ở người da trắng, môi trên phải ở sau đường Ricketts 4–6 mm và môi dưới ở sau 2-4 mm; trong khi khoảng cách này ngắn hơn ở người châu Á. Tuy nhiên, ở những người da đen, môi có xu hướng nhô ra ngoài đường này do độ dày mô mềm của môi lớn hơn và hai hàm răng nhô ra trước cũng như độ cao của mũi và cằm thấp hơn so với người da trắng.

Hình 4.89 Tỷ lệ khuôn mặt liên quan đến môi. Hình 4.89 Tỷ lệ khuôn mặt liên quan đến môi.

Người châu Á miền trung và miền Nam cũng có xu hướng môi nhô ra ngoài đường Ricketts do mũi và cằm bị thấp hơn. Trong khi đó, nhân trung nằm ngay phía trên môi trên và được giới hạn bởi hai gờ nhân trung thẳng đứng nhô lên kéo dài từ các đỉnh hai bên của cung cupid. Điểm thấp nhất của cung cupid trên đường giữa của nhân trung được gọi là điểm GK.

Giải phẫu môi rất phức tạp vì môi không phải là một thực thể dài đồng nhất, mà là tổng hợp của nhiều thành phần giải phẫu phụ khác nhau, cần được đánh giá và tập hợp như vậy (Hình 4.91). Ở môi trên, có một củ môi giữa ở bên dưới cung cupid và hai củ môi bên nằm ở hai bên. Trong khi đó, môi dưới có một chỗ lõm ở giữa với hai củ môi bên hình thành ở hai bên. Hai củ môi ở môi dưới phải nằm gọn trong phần lõm tương ứng của môi trên, trong khi ba củ môi ở môi trên nằm trên vùng phẳng hơn tương ứng của môi dưới. Theo đó, ở một đôi môi đẹp, sự hiện diện của các cấu trúc này tạo nên một dạng sóng mịn dọc theo khe miệng khi miệng khép lại với những chỗ lồi lõm xen kẽ nhấp nhô từ đầu khóe miệng này sang đầu khóe miệng kia (Hình 4.91).

Hình 4.90 Hình chiếu bên của đôi môi cân đối lý tưởng (Sn: điểm dưới mũi, Pog ’: pogoniion mô mềm). (a) Môi trên hơi nhô ra ngoài so với môi dưới khi nhìn nghiêng. (b) Pog ’nằm trên đường tiếp tuyến môi trên và môi dưới (đường Riedel). Môi nên ở sau đường nối Pog ’và Điểm đỉnh mũi (Prn) (Đường Ricketts). Hình 4.90 Hình chiếu bên của đôi môi cân đối lý tưởng (Sn: điểm dưới mũi, Pog ’: pogoniion mô mềm). (a) Môi trên hơi nhô ra ngoài so với môi dưới khi nhìn nghiêng. (b) Pog ’nằm trên đường tiếp tuyến môi trên và môi dưới (đường Riedel). Môi nên ở sau đường nối Pog ’và Điểm đỉnh mũi (Prn) (Đường Ricketts). Hình 4.91 Các tiểu đơn vị của giải phẫu môi. Hình 4.91 Các tiểu đơn vị của giải phẫu môi.

Cân nhắc giải phẫu

Mặt cắt ngang của môi

Theo mặt cắt ngang, các lớp giải phẫu của môi từ ngoài vào trong bao gồm: da hoặc niêm mạc môi khô – lớp dưới da hoặc lớp dưới niêm mạc – cơ vòng miệng – dưới niêm mạc – niêm mạc ướt trong khoang miệng. Niêm mạc môi có thể được chia thành niêm mạc khô ở bên ngoài và niêm mạc ướt trong khoang miệng. Lớp dưới niêm mạc ở bên khoang miệng nằm sâu đến cơ vòng miệng và được cung cấp bởi động mạch môi, các tuyến môi và các nhánh của dây thần kinh cằm (Hình 4.92).

Động mạch môi

Các nhánh động mạch môi trên phân nhánh từ động mạch mặt trong phạm vi hình vuông được vẽ cách phía ngoài 15 mm và phía trên 15 mm so với khóe miệng và chạy dọc theo đường viền môi trên trong cơ vòng miệng, hoặc là ở độ sâu giữa cơ vòng miệng và niêm mạc [29]. Trước khi chạm đến đỉnh của cung cupid, nó đi xuống từ đường viền môi vào phần môi đỏ và chạy vào phía đường giữa của môi trên, nơi nó kết thúc với tư cách là động mạch trụ mũi phía trên hoặc nối với động mạch môi trên ở phía đối diện. Không giống như động mạch môi trên, động mạch môi dưới hiếm khi đi dọc theo đường viền môi và có các biến thể riêng lẻ trong mô hình phân bố của nó. Phân nhánh từ động mạch mặt, nó thường chạy ngang giữa môi dưới và cằm trong cơ hạ góc miệng (DAO) và cơ hạ môi dưới(DLI) rồi đi lên trên và kết thúc ở niêm mạc môi dưới (Hình 4.93).

Cả động mạch môi trên và dưới đều nằm gần niêm mạc ướt của môi trong, với động mạch môi trên nằm ở độ sâu 5,3 mm và động mạch môi dưới ở khoảng 4,2 mm tính từ đường viền môi [30]. Vì cả hai động mạch môi thường chạy sâu đến cơ vòng miệng, Nên tiêm HA nông cho cơ vòng miệng và gần các lớp dưới da hoặc dưới niêm mạc để tránh nguy cơ tổn thương động mạch.

Những thay đổi do lão hóa ở môi

Đôi môi lão hóa thể hiện sự thâm hụt thể tích cũng như mất đi độ rõ nét ở viền môi. Khi tuổi tác ngày càng cao, môi có xu hướng mỏng đi trong khi viền môi mất đi độ nét do giảm thể tích. Môi trên bị lão hóa cho thấy sự mất thể tích, kéo dài nhân trung và mất độ nét các gờ nhân trung, cung cu-pid và đường viền môi. Môi dưới cũng trở nên mỏng dần và bắt đầu cuộn vào trong. Nhiều rãnh quanh miệng bắt đầu phát triển xung quanh môi trong khi khóe miệng bắt đầu chảy xuống dưới (Hình 4.94).

Đánh giá trước điều trị

Cần đánh giá tỷ lệ giữa môi trên và môi dưới cũng như bất kỳ sự bất đối xứng nào giữa môi trái và phải khi nhìn trực diện trước khi điều trị. Mặc dù chưa có sự thống nhất về thể tích môi lý tưởng, nhưng đôi môi mỏng thường được coi là đặc điểm thẩm mỹ không đẹp, vì chúng có xu hướng làm cho khuôn mặt thiếu sự ấm áp và chai sạn và già nua. Điều quan trọng là phải tham khảo ý kiến của bệnh nhân về thể tích môi mong muốn, vì thể tích được tiêm phụ thuộc đáng kể vào sở thích và mong muốn thẩm mỹ cụ thể của cá nhân.

Nói chung, bệnh nhân trẻ tuổi có xu hướng thích tăng kích thước và độ đầy đặn của môi trong khi mục tiêu thẩm mỹ chính ở bệnh nhân lớn tuổi là phục hồi tình trạng mất thể tích môi do tuổi tác. Sắc tộc của bệnh nhân cũng phải được xem xét vì có sự khác biệt về sắc tộc đối với kích thước môi mong muốn. Người châu Á có xu hướng thích đôi môi tương đối nhỏ hơn so với người da trắng [31].

Hình 4.92 Độ sâu tiêm để làm đầy môi là lớp dưới niêm mạc (thân môi) hoặc lớp dưới da (viền môi). Hình 4.92 Độ sâu tiêm để làm đầy môi là lớp dưới niêm mạc (thân môi) hoặc lớp dưới da (viền môi). Hình 4.93 Mạch máu của môi Hình 4.93 Mạch máu của môi Hình. 4.94 Môi lão hóa. Hình. 4.94 Môi lão hóa.

Người da đen thích kích thước môi lớn nhất, tiếp theo là người da trắng và người châu Á. Người Ả Rập có cấu trúc xương mặt gần giống với người da trắng cũng có xu hướng thích có đôi môi đầy đặn và gợi cảm hơn vì việc đeo khăn trùm đầu sẽ thu hút nhiều sự chú ý hơn đến từng đặc điểm trên khuôn mặt. Cũng cần thiết phải kiểm tra môi từ góc nhìn nghiêng để xác định sự hiện diện của bất kỳ sự nhô ra hoặc thò ra quá mức nào của môi trên hoặc môi dưới. Lưu ý rằng nâng môi bằng HA không được khuyến khích ở những bệnh nhân có miệng nhô ra, hoặc cả hai hàm nhô ra, trong khi môi trên bị lồi ra ngoài có thể được cân bằng chỉ với việc đặt chất làm đầy HA ở môi dưới. Trong trường hợp bệnh nhân có củ môi giữa nổi rõ ở môi trên, thì chỉ nên thêm thể tích vào các củ môi bên mà không làm tăng thêm thể tích củ môi giữa.

Ở những bệnh nhân lớn tuổi khoảng 50 tuổi và muốn trẻ hóa môi bằng chất làm đầy HA, có thể cũng cần làm trẻ hóa ở các phần khác của phức hợp quanh môi có dấu hiệu lão hóa. Ví dụ, điều trị các nếp nhăn sâu quanh miệng cần sử dụng kết hợp BoNT-A và chất làm đầy HA. Việc đặt bổ sung chất làm đầy HA trong các rãnh môi – hàm có thể tạo ra một kết quả tốt hơn trong việc cải thiện khóe miệng bị chảy xuống.

Kỹ thuật tiêm (Bảng 4.14)

Chỉ tiêm chất làm đầy HA một pha mềm. Dụng cụ tiêm chủ yếu là ống thông 27-G × 3 cm. Tuy nhiên, có thể sử dụng kim 30-G (xem Mục 4.12.4.3). Độ sâu của mũi tiêm thay đổi tùy thuộc vào chỉ định cụ thể. Tiêm dưới da để nâng viền môi và tiêm vào lớp dưới niêm mạc của niêm mạc khô để làm đầy thân môi. Điểm vào của ống thông là cách khóe môi 0,3 cm (Hình 4.95). Khi làm đầy các củ môi bên của môi trên và môi dưới tương ứng, nên dùng tay không thuận để ấn vào 1/3 phía trong của môi trên hoặc đường giữa của môi dưới tùy trường hợp để ngăn chặn sự lan truyền của chất làm đầy HA vào trong khu vực lõm tương ứng.

Về thể tích tiêm, đầu tiên đặt 1–1,5 mL HA qua môi để biết thể tích tổng thể và đánh giá kết quả tạm thời với bệnh nhân bằng cách sử dụng gương trước khi quyết định xem liệu bổ sung chất làm đầy HA có phù hợp hay không. Tuy nhiên, lưu ý rằng môi có thể phồng hơn ngay sau khi tiêm do lượng thuốc tê còn dư trộn với chất làm đầy HA cũng như hiện tượng sưng mô ngay sau đó. Nếu có thể, hãy đảm bảo tiêm không quá 2 mL mỗi lần để tránh tạo ra “mỏ vịt” do bơm quá nhiều.

Để gây tê, chỉ nên thoa kem gây tê tại chỗ và tiêm thuốc tê cục bộ tại điểm vào ống thông. Việc phong bế thần kinh dưới ổ mắt và cằm có thể được xem xét ở những bệnh nhân nhạy cảm cao với cơn đau, nhưng thường không được khuyến cáo vì môi rủ xuống tạm thời do phong bế thần kinh có thể cản trở việc đánh giá thể tích môi sau khi tiêm.

Mục Nội dung
Kim và ống thông Có thể sử dụng kim 27-G 3-cm, hoặc 30-G.
Chất làm đầy HA Chất làm đầy HA đơn pha.
Lượng chất làm đầy HA 1-2 mL mỗi phiên.
Độ sâu tiêm Lớp dưới da cho đường viền môi.

Lớp dưới niêm mạc của niêm mạc khô cho thân môi đỏ.

Điểm vào ống thông 0.3 cm bên khóe miệng.
Khu vực mục tiêu Đường viền môi.

Củ môi giữa và củ môi bên.

Các gờ nhân trung nếu cần thiết.

Gây mê Thuốc gây tê tại chỗ và thuốc gây tê cục bộ tại điểm vào.

Có thể yêu cầu phong bế thần kinh dưới ổ mắt và thần kinh cằm ở những bệnh nhân nhạy cảm với cơn đau.

Tay không thuận Dùng để nhấn đường giữa của môi dưới và 1/3 giữa của môi trên.

Hình 4.95 Kỹ thuật tiêm để nâng môi bằng ống thông. Hình 4.95 Kỹ thuật tiêm để nâng môi bằng ống thông.

Môi trên

Tiến sâu ống thông xuống dưới da dọc theo đường viền môi về phía đỉnh của cung cupid. Đặt chất làm đầy HA bằng kỹ thuật phân luồng tuyến tính ngược để nâng cao đường viền môi. Tiếp theo, tiến hành nâng các củ môi bên của môi trên bằng cách chuyển hướng ống thông về phía thân môi nằm bên dưới đường viền môi và đặt chất làm đầy HA vào lớp dưới niêm mạc. Điều này làm cho khóe môi hơi hếch khi miệng khép lại vì viền dưới của môi trên cong lại thành độ cong vừa phải ở góc miệng. Tuy nhiên, lưu ý rằng không nên tiêm quá 0,2–0,3 mL vào mỗi củ môi bên trên vì việc bơm quá đầy các củ môi bên có thể dẫn đến sự xuất hiện của các cục u không tự nhiên. Khi muốn nâng củ môi giữa, hãy đưa một cây kim nhọn 30-G qua điểm giữa của cung cupid, hay còn gọi là điểm GK và tiến xuống phía dưới về phía củ môi giữa. 0,1 mL HA là thích hợp để nâng củ môi giữa.

Việc sử dụng kim 30-G cũng được sử dụng để xác định và nâng cung cupid và các gờ nhân trung trong trường hợp chúng bị nhỏ bẩm sinh hoặc bị phẳng do lão hóa. Để nâng gờ nhân trung, hãy đưa kim 30-G vào đỉnh của cung cupid và tiến về phía trên để cung cấp 0,1 mL HA ở lớp da và lớp dưới da.

Môi dưới

Phương pháp tương tự có thể được áp dụng để nâng môi dưới. Đầu tiên, chất làm đầy HA được tiêm dọc theo viền môi để định hình và nâng đường viền môi dưới. Khi đường viền đã được xử lý, hãy làm phồng thân môi bằng cách nâng các củ môi bên. Nên dùng tay không thuận ấn xuống đường giữa của môi dưới để ngăn chặn sự lan rộng của chất làm đầy HA vào đường giữa. Hai củ môi bên được hình thành ở hai bên của đường giữa nếu được nâng quá cao sẽ dẫn đến đôi môi quả anh đào gây mất thẩm mỹ. Cũng cần lưu ý rằng quá trình tạo hình môi dưới thường chỉ được thực hiện ở 2/3 phía trong của môi và các cạnh bên hiếm khi được làm đầy, vì như vậy sẽ mang lại vẻ ngoài tự nhiên hơn.

Tuy nhiên, khi điều trị cho những bệnh nhân có môi dưới ngắn theo chiều ngang, cũng có thể tiêm chất làm đầy vào một phần ba phía ngoài của môi dưới để kéo dài chiều rộng của môi. Thông thường, 0,3– 0,4 mL HA được đặt vào mỗi củ bên. Tuy nhiên, để lấp đầy các cạnh bên còn lại của môi dưới, cần hơn 0,5 mL HA cho mỗi bên môi dưới.

Kỹ thuật tiêm

Sử dụng kim 30-G thay vì ống thông bằng cách tiêm một số luồng tuyến tính ngược ngắn của chất làm đầy HA tuần tự dọc theo đường viền môi (Hình 4.96). Ngoài ra, chỉ cần đẩy sản phẩm ở góc miệng vào lớp dưới da của đường viền môi cho phép sản phẩm bám dọc theo các đường gờ về phía giữa của môi ngay cả khi không đẩy mũi kim. Từ đó, có thể suy ra rằng con đường có ít lực cản nhất chính là đường viền môi trong giải phẫu. Khi nâng thân môi bằng kim, nên thực hiện tiêm ở mức dưới niêm mạc nông đến lớp cơ do các động mạch môi chạy sâu đến cơ vòng miệng. Như với tất cả các thủ thuật tiêm bằng kim khác, chọc hút trước mỗi lần tiêm là rất quan trọng để ngăn ngừa việc vô ý tiêm chất làm đầy nội mạch.

Điều trị kết hợp

Làm đầy môi có thể bao gồm việc sử dụng BoNT-A để điều trị các đường quanh miệng. Đối với các nếp nhăn nghiêm trọng quanh môi, đặt chất làm đầy HA trong da hoặc dưới da vào phần da của môi sau khi phục hồi viền môi có thể giúp cải thiện nếp nhăn trực tiếp cũng như tăng cường độ đàn hồi tổng thể của da ở vùng quanh môi. Trong khi đó, khóe miệng bị tụt xuống có thể được giải quyết bằng cách đặt 0,2– 0,5 mL chất làm đầy HA ngay bên dưới khóe miệng, cả trong da hoặc dưới da, để khóe môi hướng lên. Sự phục hồi khối lượng trong các rãnh môi – hàm cũng có thể tạo ra kết quả tốt hơn (Hình 4,96). Việc tiêm BoNT-A bổ sung trong cơ hạ góc miệng (DAO) cũng thường được thực hiện để kéo các góc miệng (Hình 4.97).

Hình 4.96 Kỹ thuật tiêm để nâng môi bằng kim (môi trái) và nâng khóe miệng (khóe miệng phải). Hình 4.96 Kỹ thuật tiêm để nâng môi bằng kim (môi trái) và nâng khóe miệng (khóe miệng phải). Hình. 4.97 (a) Trước và (b) sau khi tiêm độc tố Botulinum 3U mỗi bên trong cơ hạ góc miệng (DAO) để nâng góc miệng. Hình. 4.97 (a) Trước và (b) sau khi tiêm độc tố Botulinum 3U mỗi bên trong cơ hạ góc miệng (DAO) để nâng góc miệng.

Các biến chứng

Mỏ vịt: Nên tránh điều chỉnh quá mức thể tích môi vì nó có thể dẫn đến hình dạng “mỏ vịt” (Hình 4.98).

Thuyên tắc mạch: Tiêm chất làm đầy HA vào động mạch môi có thể xảy ra trong trường hợp dùng kim tiêm. Môi bị đổi màu tím sau khi tiêm chất làm đầy HA là dấu hiệu tắc mạch cần phải hòa tan chất làm đầy HA ngay lập tức. Mặc dù hoại tử mô hầu như không xảy ra ở môi do hệ thống mạch máu rộng rãi của nó, nhưng dù sao thì cũng nên cẩn thận.

Cục và u: Đôi khi, áp lực tiêm có thể làm cho chất làm đầy HA di chuyển trong phần mềm và lỏng lẻo của niêm mạc ướt và nhô ra như trứng cóc từ bên trong môi. Sự xuất hiện này có thể làm biến dạng môi và cần phải loại bỏ (Hình 4.99).

Bầm tím: Phải tránh làm vỡ động mạch môi trên vì nó có thể dẫn đến tụ máu đáng kể (Hình 4.99).

Không đối xứng: Sự thay đổi thể tích không đối xứng có thể xảy ra sau khi tiêm chất làm đầy môi.

Herpes Simplex: Sự bùng phát của her-pes simplex sau khi tiêm chất làm đầy HA đã được báo cáo, nhưng rất ít.

Hình 4.98 (a, c) Trước và (b, d) sau khi tiêm hyaluronidase vào môi trên để điều trị “môi vịt” do tiêm quá nhiều. Hình 4.98 (a, c) Trước và (b, d) sau khi tiêm hyaluronidase vào môi trên để điều trị “môi vịt” do tiêm quá nhiều.

Hình 4.99 (a) Lồi trứng cóc khi niêm mạc ướt, (b) Bầm tím do đứt động mạch môi trên, (c) Sự bất đối xứng của môi dưới sau khi tiêm chất làm đầy môi.

Hình 4.99 (a) Lồi trứng cóc khi niêm mạc ướt, (b) Bầm tím do đứt động mạch môi trên, (c) Sự bất đối xứng của môi dưới sau khi tiêm chất làm đầy môi. Hình 4.99 (a) Lồi trứng cóc khi niêm mạc ướt, (b) Bầm tím do đứt động mạch môi trên, (c) Sự bất đối xứng của môi dưới sau khi tiêm chất làm đầy môi.

Bàn luận: Đôi môi đỏ xinh đẹp, biểu tượng vĩnh cửu của sắc đẹp.

Theo truyền thống, một loạt các thành ngữ đã được sử dụng ở châu Á để chỉ những người phụ nữ đặc biệt xinh đẹp. Những người phụ nữ có vẻ đẹp vô song đã được tôn vinh là sở hữu “vẻ đẹp thoát tục”, “đẹp như tiên” hay “quốc sắc thiên hương”.

Thật vậy, lịch sử có rất nhiều ví dụ về các vị vua và hoàng đế cổ đại đã khiến vương quốc của họ bị diệt vong do say mê mù quáng với những phụ nữ xinh đẹp chết người. Ví dụ như Trụ Vương của nhà Thương và phi tần Đát Kỷ, Chu U vương của triều Tây Chu và Bao Tự, vua Phù Sai thời Xuân Thu và Tây Thi, Hoàng đế Đường Huyền Tông của nhà Đường và Dương Quý Phi. Do đó, những cụm từ như “khuynh quốc khuynh thành” hoặc “hồng nhan họa thủy” đã được sử dụng để chỉ những phụ nữ sở hữu vẻ đẹp quyến rũ gần như nguy hiểm. Các cụm từ truyền thống khác được sử dụng để ca ngợi vẻ đẹp phụ nữ tinh tế bao gồm “hoa nhường nguyệt thẹn” , “mắt ngọc mày ngài” (thơ Đỗ Phủ nhà Đường) và “môi hồng răng trắng”.

Trong số này, nguồn gốc của “môi đỏ răng trắng” có thể được bắt nguồn từ tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc “Tam Quốc Diễn Nghĩa”. Theo lời kể lại, Tào Tháo, một trong những nhân vật chính của cuốn sách và được miêu tả là một chính trị gia bậc thầy, đánh bại Viên Thiệu quân Ngụy vào năm 204. Khi chinh phục Ngụy, con trai của Tào Tháo là Tào Phi (187–226) giết con trai thứ hai của Viên Thiệu là Viên Hi và tuyên bố vợ của Viên Hi, Chân thị (182–221) là vợ của mình. Chân thị là một phụ nữ có vẻ đẹp tuyệt trần. Quả thực, vẻ đẹp lộng lẫy của nàng đến nỗi Tào Tháo tuyên bố rằng cuối cùng có thể đánh bại Ngụy để giành lấy Chân thị. Ngay cả em trai 13 tuổi của Tào Phi là Tào Thực cũng bí mật có tình cảm với chị dâu của mình. Năm 220, Tào Phi kế vị Tào Tháo làm vua Ngụy và lấy hai con gái của Hiến đế của nhà Hán bị truất ngôi làm vợ lẽ. Tào Phi là một vị vua tính tình bạo ngược, tàn nhẫn, khi nghi ngờ Chân thị ghen tuông với các phi tần, ông đã nhẫn tâm ra lệnh xử tử người vợ cả nhiều năm của mình. Trong khi nhiều người không dám bày tỏ lòng tiếc thương cái chết của Chân thị vì sợ hãi trước cơn thịnh nộ của Tào Phi, thì chỉ có người em trai của ông là Tào Thực dám viết một bài thơ để tưởng nhớ người chị dâu yêu dấu một thời của mình, có tựa đề “Cảm Chân phú . ” Một đoạn trong bài thơ viết, “Môi đỏ rực rỡ bên ngoài/ Răng trắng tinh khiết ở trong” từ đó dẫn đến thành ngữ “môi đỏ răng trắng” và gần như được sử dụng như một từ ngữ chỉ vẻ đẹp của phụ nữ.

Theo nhận thức chung của tôi, cụm từ “môi đỏ răng trắng” không chỉ áp dụng để miêu tả phụ nữ châu Á xinh đẹp. “Tess” (1979) của đạo diễn Roman Polanski dựa trên cuốn tiểu thuyết kinh điển của Thomas Hardy, là bộ phim tôi đã xem khi còn nhỏ và là bộ phim khiến tôi biết đến sự quyến rũ khó cưỡng của Nastassja Kinski. Như nhiều bộ phim cũ khác, tôi chỉ được nhớ được những phân cảnh lẻ tẻ. Tuy nhiên, một cảnh vẫn khắc sâu trong tâm trí tôi như một hình ảnh tĩnh; nơi mà Alec d ’Urberville cố gắng quyến rũ Tess bằng dâu tây. Ảnh chụp cận cảnh đôi môi đỏ mọng và hàm răng trắng sáng rực rỡ của Nastassja Kinski khi cô cắn vào quả dâu tây mới hái đã mê hoặc đến mức say sưa. Bị cuốn hút bởi vẻ đẹp thuần khiết, nguyên sơ, gần như hoang dã của Nastassja Kinski được ghi lại trong khung cảnh ở tuổi 18 ngây thơ của cô ấy, trái tim thiếu niên dịu dàng của tôi khao khát được trở thành quả dâu mà cô ấy đang cắn. Không nghi ngờ gì nữa, có thể nói rằng sức quyến rũ của đôi môi căng mọng vượt qua cả thời gian và không gian là dấu ấn vĩnh cửu của vẻ đẹp thanh xuân. Nói như vậy, sẽ không có gì ngạc nhiên khi Nastassja Kinski là hình ảnh nữ thần thường được kẹp trong những cuốn vở đi học của tôi.

Bàn luận: Nguồn gốc của thuật ngữ “Vermillion”

Vermilion (trong vermilion body: phần thân môi đỏ) dùng để chỉ một sắc tố màu đỏ tươi, gần nhưu đỏ son (Hình 4.100), thu được từ một khoáng chất màu đỏ gọi là cinnabar. Tên Vermilion ban đầu có nguồn gốc từ thuật ngữ vermeillon, là một loài rệp, hay thuốc nhuộm màu đỏ được chiết xuất từ loài rệp son trong thời cổ đại. Điều đó nói lên rằng, việc sản xuất vermillion ngày nay không liên quan đến côn trùng và thay vào đó được chiết xuất từ các khoáng chất.

Hình. 4.100 Màu Vermillion. Hình. 4.100 Màu Vermillion.

Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here