Enter your keyword

Các loại bạch cầu
5 (100%) 5 votes

Bạch cầu hạt trung tính

Mức hình thương (1,1- 7,0) nghìn tế bào trong 1mm3 máu, SI – (1,1- 7,0) X 109 /L

Bạch cầu hạt trung tính chứa nhiều enzym thuỷ phân. Vai trò cùa chúng là thực bào. Một bạch cầu hạt trung tính có thể thực bào từ 5 – 20 vi khuẩn.

Tăng hạch cầu đa nhân trung tính (trê 70%, có thể tới 95%) gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính: viêm phổi, viêm ruột thừa, viêm amidan, các bệnh gây mủ, apxe,nhọt…

Giảm bạch cầu đa nhân trung tính (<1500/mm3 ) có thể do giảm sinh sản hoặc do tăng cường phá hưý. Trường hợp này có thể gặp trong một sô bệnh nhiễm khuẩn như thương hàn, cúm, sởi, HIV, sốt rét hoặc do một số thuốc tác động trên tổng hợp DNA (phenothiazin, phenytoin, kháng sinh, sulfonamid, các thuốc diệt tố bào dừng trong ung thư hoặc do đáp ứng với thuốc (chloramphenicol, phenylbutazon, quinidin).

Giảm cũng có thể do tăng cường phá huỷ hạch bạch cầu đa nhân trung tính bởi cơ chế miễn dịch đối với bệnh nhân dùng aminopyrin, phenybutazon, sulfapyridin. Một trạng thái nặng là chứng mất bạch cấu hạt (agranulocytosis) biểu hiện bằng sự giảm đột ngột bạch cầu hạt rất nặng (<200/mm ) kèm với sốt, loét, hoại tử niêm mạc miệng, họng…

Mất bạch cầu hạt gặp trong trường hợp tuy xương bị tổn thương nặng (suy tuỷ) hoặc do nhiễm trùng, nhiễm độc.

Bạch cầu đa nhân ưa acid (bạch cầu ưa eosin)

(0 – 0,4) X 103    /mm3

Bạch cầu ưa acid cũng có khả năng thực bào nhưng yếu hơn nhiều so với bạch cầu đa nhân trung tính

Tăng bạch cầu đa nhân ưa acid trong các bệnh dị ứng, hen, eczema, các bệnh lý sinh trùng

Giảm bạch cầu ưa acid trong các trạng thái sốc, bệnh Cushing, các trạng thái tủy xương bị tổn thương hoàn toàn.

Bạch cầu đa nhân base

Mức bình thường(0-0,15)*103/mm

bạch cầu đa nhân ưa base rất hiếm gặp trong máu. chúng không có khả năng vận động và thực bào. chúng cũng có vai trò trong dị ứng: Kháng thể của các phản ứng là Ig E thường gắn trên màng của bạch cầu ưa base và tế bào Mast của mô (tế bào Mast được coi là bạch cầu ưa base ở mô). Khi kháng nguyên đặc hiệu phản ứng với kháng thể này sẽ làm cho những bạch cầu ưa base có gắn IgE bị vỡ và giải phóng ra một số lượng lớn histamin, brandykinin, serotonin,.. chính những chất này gây ra phản ứng tại chỗ như phù, mẩn, ngứa, đau.

bạch cầu đa nhân ưa base tăng trong các trường hợp tăng mẫn cảm, thiểu năng tuyến giáp, giảm trong điều trị corticoid kéo dài.

Bạch cầu mono

Mức bình thường (0,2-0,7)*103/mm3

Sau khi được sinh ra trong tủy xương, bạch cầu mono vào máu một thời gian ngắn rồi đi vào mô, nhanh chóng trở thành đại thực bào. Ở máu bạch cầu mono là những tế bào chưa trưởng thành nên không có khả năng tấn công và phá hủy các tác nhân gây bệnh. như vậy bạch cầu mono và và đại thực bào là những giai đoạn khác nhau của cùng một loại tế bào và hợp thành hệ thống trước đây gọi là võng nội mô hay là hệ thống đại thực bào của nội mô.Đại thực bào gắn với mô được gọi là đại thực bào cố định, chúng ở đây hàng tháng, hàng năm và cũng có thể rời khỏi mô để trở thành đại thực bào di động đễn các vùng viêm nhiễm theo cơ chế hóa ứng động.

Chức năng của bạch cầu mono là thực bào. một đại thực bào có thể nuốt tới 100 tế bào vi khuẩn, ăn hồng cầu già, bạch cầu trung tính bị chết, kí sinh trùng, mô hoại tử. CHúng còn có vai trò trong khởi động quá trình miễn dịch, cụ thể là khi vi khuẩn, virus hoặc tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể, các thực bào sẽ thực bào và tiêu hóa chúng thành sản phẩm còn giữ được khả năng hoạt hóa quá trình miễn dịch, nghĩa là kích thích tế bào lymphoB sản xuất kháng thể đặc hiệu để tiêu diệt tác nhân gây bệnh.

Bạch cầu mono tăng trong nhiễm khuẩn cấp tính và mạn tính

Giảm bạch cầu mono ít gặp, có thể thấy sau khi tiêm corticoid.

Bạch cầu lympho

Mức bình thường: (1,5-3)*103/mm3

bạch cầu lympho là những tế bào có khả năng miễn dịch

có hai loại tế bào lympho

  • LymphoB:có chức năng miễn dịch dịch thể, sản xuất ra các kháng thể lưu động trong máu để tấn công các tác nhân gay bệnh
  • LymphoT: có chức năng miễn dịch tế bào, một khi bị kích thích chúng trở thành lympho cảm ứng, tham gia tiêu diệt các tác nhân gây bệnh

Đa số các tế bào lympho khu trú ở lách, các mô bạch huyết, các lympho lưu hành trong máu chỉ chiếm 5% tổng sô các tế bào này của toàn cơ thể.

Sự tăng giảm của lympho thường thay đổi trong một số bệnh nhiễm virus và nhiễm khuẩn (viêm khớp, phản ứng quá mẫn với thuốc phenytoin, acid p-amino salicylic. khi số lượng lympho giảm quá nhiều, bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Suy giảm miễn dịch có thể do bẩm sinh hoặc do mắc phải như do hóa chất dùng trong ung thư, do các chất ức chế miễn dịch dùng trong ghép mô, nhiễm xạ, nhiễm HIV

Copy ghi nguồn: https://nhathuocngocanh.com/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *