Enter your keyword

Xét nghiệm sinh học lâm sàng và hệ thống SI trong y học
5 (100%) 2 votes
  1. Xét nghiệm sinh học lâm sàng

Xét nghiệm sinh học lâm sàng bao gồm các lĩnh vực sinh hoá, huyết học, miễn dịch, vi trùng, ký sinh trùng, virus là những công cụ ngày càng phong phú hiện đại không thế thiếu được giúp ích cho người thầy thuốc trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi tiến triến của bệnh. Làm công tác dược lâm sàng, người dược sĩ cần biết ý nghĩa và nhận định kết quả một số xét nghiệm lâm sàng thường gặp đế giúp cho việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, phát hiện kịp thời những tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị người bệnh

Như vậy đối với Dược sĩ lâm sàng, xét nghiệm lâm sàng có ý nghĩa giúp cho việc nhận định kết quả của việc dùng thuốc, và đánh giá việc sử dụng thuốc. 

2. Hệ thống SI trong y học

Máu, nước tiểu và một số dịch sinh học thường được sử dụng để phân tích. Các kết quả thu được ớ người khoẻ mạnh nằm trong một giới hạn nhất định gọi là “trị số hình thường” hoặc “trị số quy chiếu”. Những kết quả ra ngoài giới hạn trên gọi là “bất thường”. Mồi xét nghiệm có thể phân tích bằng nhiều phương pháp khác nhau, do đó có thể cho kết quả hơi khác nhau. Vì vậy người thầy thuốc nên sử dụng trị số quy chiếu làm tại cơ sở mình

Đế thống nhất cách biếu thị kết quả trong vài thập kỷ qua nhiều mốc đã chuvển dần sang dùng hệ thống đơn vị quốc tế SI (systemic International). Hệ thông SI dựa trên 7 đơn vị cơ sớ: mét (dỏ dài), kilogam (trọng lượng), giây (thời gian), mol (lượng chất). Kelvin (nhiệt dộ). ampe (cường độ dòng điện) và candela (cường độ ánh sáng).

 

Đại lượngTênKý hiệu
Độ dàimetm
Trọng lượngkllogamkg
Thời giangiâys
cường độ dòng điệnampeA
Nhiệt độkelvinK
Cường độ ánh sángcandelaCd
Lượng chấtmolmol

 

Từ 7 đơn vị cơ sở này, mở rộng ra các đơn vị dẫn xuất khác như: mét vuông (m2) – diện tích, mét khối (m2) – thể tích, Newton (N) – lực, Pascal (Pa) – áp suất, Joul (J) – công hoặc năng lượng, Hertz (Hz) – tần số. Như vậy áp lực khí không biểu thị bằng mmHg mà bằng Pascal. Khi những đơn vị cơ sở và đơn vị dẫn xuất có độ lớn không thích hợp trong các hằng số sinh học, người ta dùng những bội số và ước số thập phân của các đơn vị bằng cách ghép những tiếp đầu ngữ tương ứng vào tên các đơn vị đó.

Bảng 3.2. Những tiếp đầu ngữ thông dụng trong xét nghiệm lâm sàng

Tiếp đầu ngữKý hiệuHệ số
ki lok103
megaM106
gigaG109
milim10 3
microu10e
nanon10-9
picop10-12
íemtof10 15

 

Lý do chủ vếu thúc đẩy sự chuyển đổi sang hộ thống SI xuất phát từ cơ sở là các chất phản ứng với nhau, theo phân tử với phân tử chứ không theo gam với gam, do đó biểu thị hàm lượng các chất theo mol là hợp lý và dễ so sánh hơn là biểu thị theo gam.

– Mol là danh từ rút gọn của phân tử gam (molécule-gramme). Ví dụ:

+ l mol oxy có một trọng lượng bằng 16×2 = 32g.

+ 1 mol glucose (bằng 12×6 + 1 X 12 + 16×6 = 180g.

Người ta không dùng đơn vị mol để biểu thị nồng độ rất loãng của glucose trong máu mà dùng ước số của nó là milimol: 1 mmol glucose = 0,180g. Trong 1 lit máu người bình thường có khoảng 5 mmol glucose nghĩa là 5 X 0,180g = 0,90g/L.

Khái niệm về mol thường không áp dụng với những chất như protein và polyosid phức tạp mà khối lượng phân tử chưa xác định rõ.

  • Về hoạt độ enzym. đơn vị katal (ký hiệu là kat) là lượng enzym xúc tác sự hiên đổi 1 mol cơ chất trong 1 giâv (s) ở những điều kiện xét nghiệm nhất định. Đơn vị này thường quá lớn. trong sinh hoá lâm sàng thường dùng các đơn vị nhỏ  hơn như microkat, hoặc nanokat. Các đơn vị này dần dần thay thế cho đơn vị quốc tê cũ về enzvm (ký hiệu U) là lượng enzym xúc tác sự biến đổi 1 pmol cơ chất trong 1 phút là những diều kiện xét nghiệm nhát định.
  • Các ion (Na\ K+, Cl ) trước được biếu thị bằng dương lượng (Equivalent), nay thay bàng đơn vị mol
  • Ty tệ phần trăm được thay thế bằng hệ số thập phân.

copy ghi nguồn: https://nhathuocngocanh.com/

link bài viết: https://nhathuocngocanh.com/xet-nghiem-sinh-hoc-lam-sang-va-he-thong-si-trong-y-hoc/

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *