Enter your keyword

Tương tác thuốc theo cơ chế dược động học
5 (100%) 1 vote

Những tương tác thuốc theo cơ chế dược động học:tác động lên các quá trình: Hấp thu (Absorption = A), Phân bố (Distribution = D), Chuyển hoá (Metabolism = M), Thải trừ (Elimination = E) cùa thuốc trong cơ thể. Hậu quả của tương tác dược động học là sự thay đổi nồng độ của thuốc trong huyết tương, dẫn đến thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính. Đây là loại tương tác xẩy ra trong suốt quá trình tuần hoàn của thuốc trong cơ thể, khó đoán trước, không liên quan đến cơ chế tác dụng của thuốc.

Tương tác dược động học có thể do:

  • Thay đổi hấp thu tại vị trí đưa thuốc.
  • Thay đổi phân bố của thuốc trong cơ thể.
  • Thay đổi chuyển hoá của thuốc tại gan.
  • Thay đổi bài xuất thuốc qua thận.
  1. Thay đổi hấp thu tại vị trí đưa thuốc

Tương tác hấp thu hay xẩy ra với các thuốc dùng theo đường uống: với các đường đưa thuốc khác tỷ lệ gặp không nhiều:

Do thay đổi pH tại dạ dày

Bình thường dịch vị có pH từ 1 đến 2. Nếu sử dụng những thuốc gây giảm tiết HCl (thuốc kháng thụ thể H2, thuốc chẹn bơm proton) hoặc trung hoà HCl (các antacid). khả năng hấp thu của một số thuốc sẽ giảm; thí dụ: griseofulvin, Fe++.

Trái lại, nếu dùng những thuốc có bản chất acid (thí dụ vitamin C) thì một số thuốc kém bền trong môi trường acid sẽ bị phá huỷ nhiều hơn tại dạ dày, các thuốc loại này là các kháng sinh nhóm betalactamin (ampicilin, cephalexin…) hoặc các macrolid (erythromycin).

Do thay đổi nhu động đường tiêu hoá

Các thuốc tác động lên hê thần kinh thực vât có thể làm tăng hoặc giảm nhu động ống tiêu hoá.Về mặt nguyên tắc, nếu một thuốc được tống nhanh ra khỏi dạ dày sẽ có lợi cho việc hấp thu vì ruột là vị trí hấp thu tối ưu đối với mọi loại thuốc, ngược lại nếu một thuốc bị tống nhanh ra khỏi ruột sẽ bị giảm hấp thu. Những thuốc làm tăng nhu động dạ dày-ruôt thường gặp là các thuốc nhuận tràng, các thuốc kích thích hoặc phong bế hệ thần kinh thực vât (propranolol, phvsostìgmin…); khi sử dụng các thuốc loại này, thuốc phối hợp bị tống nhanh ra khỏi đường tiêu hoá và dẫn đến mất tác dụng. Nên lưu ý khi thuốc phối hợp là các thuốc giải phóng kéo dài (12 hoặc 24h).

Do tạo phức khó hấp thu giữa hai thuốc khi dùng đồng thời

Điều này hay xẩy ra khi ta sử dụng các thuốc có chứa các ion kim loại hoá trị cao như Al+++, Ca++, Mg*\ Fe++, Fe*++… ; phức chất tạo ra giữa ion kim loại với thuốc sẽ không qua được niêm mạc ruột và do đó sự hấp thu bị cản trở. Thuốc hay bị tạo chelat nhất là các kháng sinh nhóm tetracyclin, fluoroquinolon. Tương tác này cũng gặp khi dùng các kháng sinh nêu trên với sữa.

Cholestyrạmin (một chất làm tủa muối mật dùng dể ngăn cản quá trinh hấp thu các chất béo dùng trong điều trị chứng tăng lipid huyết) cũng có thể tạo phức với một số thuốc và cản trở hấp thu; thí dụ với digoxin.

Do cản trở cơ học, tạo lớp ngăn sự tiếp xúc của thuốc với niêm mạc ống tiêu hoá

Tương tác loại này thường do các thuốc bao che niém mạc tiêu hoá như kaolin, smecta. sucralíat… tạo ra hoặc do uống đồng thời với bữa ăn.

Nếu gặp những trường hợp này biện pháp giải quyết là uống 2 loại thuốc này cách xa nhau tối thiểu 2 giờ.

2.Thay đổi phân bố của thuốc trong cơ thể     ‘                ,      ..

Các tương tác do đẩy nhau ra khỏi protein liên kết trong huyết tương

Các thuốc được vận chuyển trong máu dưới dạng liên kết với protein của huyết tương (albumin và globulin). Trong thực tế, luôn luôn tồn tại một cân bằng động giữa dạng thuốc lự do và dạng thuốc liên kết. Chí có dạng thuốc tự do mới có tác dụng dược lý, còn dạng liên kết giống một kho dự trữ và nhả dần thuốc ra dạng tự do khi nồng độ thuốc tự do bị giám.

Khi điều trị cần lưu ý khả năng hai thuốc đẩy nhau ra khỏi protein liên kết, có thể gặp khi phối hợp hai thuốc có cùng điểm gắn với một protein huyết tương: thuốc có ái lực với protein mạnh hơn sẽ đẩy thuốc kia ra khỏi vị trí liên kết, làm cho nồng độ thuốc bị đẩy ra dạng tự do tăng, có nghĩa là tác dụng dược lý cùa thuốc bị đó tăng.

Tương tác loại nàv chỉ xảy ra với các thuốc có tỷ lệ liên kết yới protein cao (trên 80%). Hậu quả của tương tác sẽ nguy hiểm nếu thuốc bị đẩy là thuốc có phạm vi điều trị hẹp.

Ví dụ:

Thuốc chống đông máu dạng uống (AVK) như Warfarin, dicoumarol…

Thuốc chống đái tháo dường dạng uống như tolbutamid, carbutamid…

– Thuốc chống ung thư, đặc biệt là methotrexat.

Các thuốc đẩy được 3 loại thuốc trên mạnh nhất là miconạzọỊ/các NSAID (aspirin, phenyIbutazon).

Các tương tác do thay đổi tỷ lệ nước của dịch ngoại bào của cơ thể

Những thuốc phân bố nhiều trong nước như digoxin, thcophvlin, kháng sinh nhóm aminosid (gentamicịn. arnikacin…) rất nhạy cảm với sự mất dịch ngoại bào. Thuốc lơi tiếu là thuốc gây mất dịch ngoại bào manh, đăc biệt là furosemid; điều này có thế dẫn dến tăng nồng dộ các thuốc nêu trên.

  3.Thay đổi chuyển hoá của thuốc tại gan (M)

Tương tác loại này gặp phải khi phối hợp các thuốc chuyến hoá qua gan.Các thuốc có hệ số chiết xuất qua gan nhỏ (E < 0,3), rất nhạy cảm với hiện tượng ức chế hoặc cảm ứng enzym gan. Nếu các thuốc dùng đồng thời với chúng có ảnh hướng lên hoạt tính của enzym gan (cảm ứng hoặc ức chế, bảng ) thì cũng có nghĩa là làm thay đổi lượng thuốc bị chuyên hoá khi qua gan; như vậy, sinh khả dụng (biovailability) bị thay đổi. Tuy nhiên, hậu quá chỉ nghiêm trọng với những thuốc có phạm vi điều trị hẹp, khi mà sự thay đổi nồng độ dẫn đến thay đổi tác dụng hoặc độc tính.

Bảng. Một số thuốc có ảnh hưởng đến hoạt tính của enzym gan

Chất cảm ứng (Inducer)Chất ức chế (Inhibitor)
Phenobarbital Allopurinol
‘Phenytoin‘IMAO
ỵ Glutethimid.’ Disultiram
MeprobamatT.A.O
Carbamazepin‘ Erythromycin
PrimidonJosamicin
 SpironolactonCimetidin
GriseofulvinMiconazol ^
■ Rifampicinlsoniazid

, /

Chất khác: ‘■ RượuEnoxacin
– Thuốc íá
D.D.T

copy ghi nguồn: https://nhathuocngocanh.com/

link bài viết:  https://nhathuocngocanh.com/tuong-tac-thuoc-theo-co-che-duoc-dong-hoc/ ‎

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *