Thuốc NOLVADEX và NOLVADEX-D điều trị ung thư vú

Enter your keyword

Thuốc NOLVADEX và NOLVADEX-D điều trị ung thư vú

In stock N/A .
106 19/04/2018 9:04:27

Mô tả

Thuốc NOLVADEX và NOLVADEX-D điều trị ung thư vú
5 (100%) 1 vote

THÀNH PHẦN

  • Nolvadex chứa 15,2 mg Tamoxifen Citrate Ph.Eur. (tương đương với 10mg tamoxifen).
  • Nolvadex-D chứa 30,4 mg Tamoxifen Citrate Ph.Eur. (tương đương với 20mg tamoxifen).
  • Tá dược: Lactose, tinh bột ngô, gelatin, croscarmellose natri týp A, magnesi stearat, methyl  hydroxypropyl-cellulose, macrogol 300, titan dioxid

DẠNG BÀO CHẾ: Viên nén bao phim.

TRÌNH BÀY: Nolvadex 10 mg: Hộp 3 vỉ, vỉ 10 viên.

Nolvadex 20 mg: Hộp 3 vỉ, vỉ 10 viên.

CHỈ ĐỊNH

Được chỉ định trong điều trị ung thư vú.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG

Đường dùng: uống.

  • Người lớn (kể cả người cao tuổi): Liều dùng từ 20 đến 40 mg/ngày, uống một lần duy nhất hoặc chia làm hai lần. Liều khuyến cáo là 20mg/ngày. Liều 40mg/ngày chỉ sử dụng khi bệnh nhân không đáp ứng với liều 20mg/ngày.
  • Sử dụng cho trẻ em: Không khuyến cáo sử dụng Nolvadex cho trẻ em vì hiệu quả và tính an toàn chưa được thiết lập (xem “ Đặc tính dược lực học” và “ Đặc tính dược động học”).

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Phụ nữ có thai: Nolvadex không được sử dùng trong thời gian mang thai. Một số ít trường hợp sẩy  thai tự nhiên, khuyết tật thai và thai lưu đã được ghi nhận ở phụ nữ có thai dùng Nolvadex, mặc dù  mối quan hệ nhân quả đã được xác lập. Bệnh nhân tiền mãn kinh phải được kiểm tra cẩn thận để loại trừ khả năng mang thai trước khi điều trị (xem “Phụ nữ có thai và cho con bú”).

Không dùng cho bệnh nhân nhạy cảm với thuốc hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

LƯU Ý VÀ THẬN TRỌNG KHI SỬ DỤNG THUỐC

Trong khi điều trị ung thư vú bằng Nolvadex, một số trường hợp bệnh nhân tiền mãn kinh có thể bị  mất kinh.

Sự gia tăng tần suất rối loạn nội mạc tử cung bao gồm tăng sản, políp, ung thư nội mạc tử cung và  sacôm tử cung (hầu hết ở dạng u Mullarian thể hỗn hợp ác tính) đã được ghi nhận là có liên quan đến việc điều trị bằng Nolvadex. Cơ chế chưa được biết nhưng có thể liên quan đến đặc tính giống  oestrogen của Nolvadex. Cần theo dõi ngay các bệnh nhân đã và đang dùng Nolvadex có các triệu  chứng phụ khoa bất thường, đặc biệt là xuất huyết âm đạo, hoặc có biểu hiện rối loạn kinh nguyệt,  xuất tiết âm đạo và các triệu chứng như đau hoặc nặng vùng chậu.

Một số khối u tiên phát thứ hai xuất hiện ngoài nội mạc tử cung và vú đối diện đã được ghi nhận  trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân ung thư vú sau khi điều trị bằng tamoxifen. Mối quan hệ nhân quả vẫn chưa được xác lập và tầm quan trọng về mặt lâm sàng của các quan sát này vẫn chưa r ràng.

Thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối (VTE)

  • Tăng 2 – 3 lần nguy cơ VTE đã được ghi nhận trên phụ nữ khỏe mạnh sử dụng tamoxifen (xem “tác dụng ngoại ý”).
  • Bác sĩ cần xem xét kỹ tiền sử bản thân bệnh nhân và gia đình bệnh nhân có từng bị VTE. Nếu  có nguy cơ huyết khối, bệnh nhân cần được kiểm tra các yếu tố dễ gây huyết khối. Các bệnh  nhân xét nghiệm dương tính cần được hướng dẫn về nguy cơ bị huyết khối. Quyết định sử  dụng tamoxifen cho các bệnh nhân này nên dựa trên nguy cơ tổng thể đối với bệnh nhân.

Ở một số bệnh nhân đã chọn lọc, việc sử dụng tamoxifen cùng với thuốc chống đông dự phòng có thể có ích (xem “tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác”).

  • Nguy cơ VTE tăng thêm khi bệnh nhân bị béo phì nặng, khi tuổi bệnh nhân tăng và khi có các  yếu tố nguy cơ VTE khác. Tất cả bệnh nhân nên được xem xét cẩn thận về các nguy cơ và lợi  ích trước khi điều trị bằng tamoxifen. Nguy cơ này cũng tăng khi có hóa trị liệu phối hợp (xem “tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác”).Việc sử dụng kéo dài thuốc chống đông dự phòng có thể hữu ích cho một số bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ VTE.
  • Phẫu thuật và tình trạng bất động: chỉ nên ngưng trị liệu với tamoxifen khi nguy cơ huyết khối  do tamoxifen vượt trội các nguy cơ do ngưng điều trị. Tất cả bệnh nhân nên có biện pháp dự  phòng huyết khối thích hợp, và nên được hướng dẫn về cách sử dụng với áp lực trong quá  trình nằm viện, tập đi tại sớm, nếu có thể, và điều trị với thuốc chống đông.
  • Nếu bệnh nhân có biểu hiện VTE, nên ngưng ngay tamoxifen và tiến hành biện pháp chống  đông thích hợp. Quyết định sử dụng lại tamoxifen nên được đánh giá dựa trên nguy cơ tổng  thể của bệnh nhân, ở một số bệnh nhân chọn lọc, việc sử dụng tamoxifen cùng với thuốc  chống đông dự phòng có thể có ích.
  • Tất cả bệnh nhân nên liên lạc với bác sĩ ngay lập tức nếu bệnh nhân có bất kì triệu chứng VTE  nào.

Trong một nghiên cứu không có đối chứng trên 28 bệnh nhi nữ từ 2 – 10 tuổi bị hội chứng McCune  Albright (MAS) sử dụng 20mg tamoxifen một lần mỗi ngày trong 12 tháng, thể tích trung bình tử  cung tăng sau 6 tháng điều trị và tăng gấp đôi vào cuối thử nghiệm kéo dài 1 năm. Mặc dù các ghi  nhận này phù hợp với đặc tính dược lực học của tamoxifen, mối liên hệ nhân quả chựa được thiết lập (xem “Đặc tính dược lực học”).

TƯƠNG TÁC THUỐC

Dùng chung Nolvadex với các thuốc kháng đông máu loại coumarin có thể làm tăng đáng kể tác dụng chống đông máu. Khi bắt đầu dùng kết hợp thuốc như thế nên theo dõi bệnh nhân cẩn thận.

Dùng chung Nolvadex với các chất gây độc tế bào, để điều trị ung thư vú, có thể làm tăng nguy cơ tắc mạch do huyếtkhối. (xem “Lưu Ý và thận trọng khi sử dụng thuốc” và “ Tác dụng ngoài ý”). Do sự tăng nguy cơ VTE này, dự phòng huyết khối nên được xem xét ở bệnh nhân trong giai đoạn hóa trị  liệu phối hợp.

Sử dụng tamoxifen phối hợp với chất ức chế aromatase như là điều trị bổ trợ không cho thấy cải thiện hiệu quả so với đơn trị tamoxifen.

Do Nolvadex được chuyển hóa qua hệ thống men Cytochrome P450 3A4,  nên khi dùng chung  với  các thuốc như rifampicin,  được biết gây cảm ứng  men này thì cần thận trọng  vì nồng độ  tamoxifen có thể bị giảm. Mối liên quan trên lâm sàng của sự giảm nồng độ này vẫn chưa rõ.Tương tác về dược động học với chất ức chế enzym CYP2D6 cho thấy giảm nồng độ huyết tương của chất chuyển hóa có hoạt tính của tamoxifen, 4-hydroxy-N-desmethyltamoxifen (endoxifen)  đã được  báo cáo trong y văn. Đã ghi nhận giảm hiệu quả của tamoxifen khi dùng đồng thời với một số thuốc chống  trầm cảm loại ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (như paroxetin).

Suy thận: Không cần phải điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận.

Suy gan: Do thuốc được chuyển hóa qua gan nên thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân suy gan.

PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ

  • Phụ nữ có thai: Nolvadex không được sử dụng trong thời gian mang thai. Một số ít trường hợp như  sẩy thai tự nhiên, khuyết tật thai và thai lưu đã được ghi nhận ở phụ nữ có thai dùng Nolvadex, mặc  dù mối quan hệ nhân quả chưa được xác lập. Các nghiên cứu độctính trên hệ sinh sản ở chuột, thỏ và khỉ cho thấy Nolvadex không có tiềm năng gây quái thai. Đối với sự phát triển hệ sinh sản của bào  thai ở loài gậm nhấm, tamoxifen liên quan đến những thay đổi tương tự với những thay đổi do  oestradiol, ethynyl-oestradiol, clomiphen và diethylstilboestrol (DES)  gây ra. Mặc dù mối liên quan  về mặt lâm sàng của những thay đổi này chưa được biết, nhưng một vài thay đổi,  đặc biệt là sự phát triển bất thường biểu mô tuyến trong âm đạo tương tự với những thay đổi ở phụ nữ trẻ dùng  DES ở tử cung và những bệnh nhân có 1/1000 nguy cơ ung thư tế bào sáng ở âm đạo hoặc cổ tử  cung. Chỉ một số nhỏ bệnh nhân là  phụ nữ có thai dùng tamoxifen.  Ở những bệnh nhân nữ trẻ tuổi  dùng tamoxifen này, không ghi nhận bất cứ sự phát triển bất thường biểu mô tuyến trong âm đạo hoặ ung  thư tế bào sáng ở âm đạo hoặc ở cổ tử cung.

Bệnh nhân nữ không nên có thai trong khi đang điều trị bằng Nolvadex và nên sử dụng biện pháp  tránh thai không hormon hoặc dạng vách ngăn. Bệnh nhân tiền mãn kinh cần được khám nghiệm cẩn thận để loại trừ khả năng có thai trước khi điều trị. Nên thông báo cho bệnh nhân về mối nguy cơ  tiềm ẩn đối với bào thai nếu có thai trong khi điều trị bằng Nolvadex hoặc trong vòng 2 tháng sau khi ngưng điều trị

  • Phụ nữ cho con bú: tuy chưa xác định rõ Nolvadex có bài tiết qua sữa mẹ hay không, người ta vẫn  khuyến cáo không dùng Nolvadex trong thời kỳ cho con bú. Sự quyết định ngưng cho con bú hoặc  ngưng dùng thuốc nên tùy thuộc vào mức độ quan trọng của việc dùng thuốc đối với người mẹ.

 

ẢNH HƯỞNG LÊN LÁI XE VÀ SỬ DỤNG MÁY

Chưa có bằng chứng cho thấy Nolvadex làm suy giảm các hoạt động này.

TÁC DỤNG NGOẠI Ý

Tác dụng phụ của Nolvadex có thể phân loại theo tác động dược lý của thuốc như nóng bừng mặt,  xuất huyết âm đạo, tiết dịch âm đạo, ngứa âm hộ và phản ứng da xung quanh bướu hay theo tác dụng  ngoại ý thường gặp như rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, chóng mặt và ít gặp hơn là ứ dịch cơ thể và rụng tóc.

Khi các tác dụng phụ này nặng, có thể xử trí bằng cách giảm liều (đến mức không dưới 20mg/ngày) mà không ảnh hưởng đến việc kiểm soát bệnh. Nếu các tác dụng phụ không giảm khi giảm liều, có thể cần phải ngưng trị liệu

Nổi mẩn ở da (kể cả các trường hợp hiếm gặp như ban đỏ đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, viêm mao mạch da, dạng pemphigut bọng nước) và các phản ứng quá mẫn, kể cả phù mạch cũng  thường được ghi nhận.

Ít gặp trường hợp bệnh nhân di căn xương bị tăng canxi trong máu khi bắt đầu điều trị.

Hiện tượng giảm tiểu cầu, thường giảm còn 80.000 đến 90.000/mm3, đôi khi thấp hơn, được ghi nhận ở bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng tamoxifen.

Các trường hợp rối loạn thị giác, bao gồm thay đổi hiếm gặp ở giác mạc và các báo cáo thường gặp  về bệnh võng mạc đã được ghi nhận ở những bệnh nhân điều trị bằng Nolvadex. Bệnh đục thủy tinh  thể thường được ghi nhận có liên quan đến việc dùng Nolvadex.

Các trường hợp bệnh lý thần kinh thị giác và viêm thần kinh thị giác đã được ghi nhận trên bệnh nhânsử dụng tamoxifen, và một số ít trường hợp xảy ra mù lòa.

U xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và những thay đổi nội mạc khác kể cả tăng sản và políp cũng được ghi nhận.

U nang buồng trứng hiếm khi quan sát thấy ở những bệnh nhân dùng Nolvadex. Polyp âm đạo hiếm  khi quan sát thấy ở những bệnh nhân dùng Nolvadex.

Hiện tượng giảm bạch cầu quan sát thấy sau khi dùng Nolvadex, thỉnh thoảng có liên quan đến tình  trạng thiếu máu và/hoặc giảm tiểu cầu. Giảm bạch cầu trung tính được ghi nhận ở một số hiếm  trường hợp; đôi khi có thể trở nên trầm trọng và hiếm các trường hợp mất bạch cầu hạt được ghi  nhận. Tai biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ và tắc mạch do huyết khối kể cả huyết  khối  tĩnh mạch sâu, huyết khối vi  mạch và nghẽn mạch phổi  thường xảy ra khi điều  trị bằng Nolvadex (xem “Chống chỉ định”, “Lưu ý và thận trọng khi sử dụng thuốc” và “Tương tác với các  thuốc khác và các dạng  tương tác khác”).

Dùng chung Nolvadex với các chất gây độc tế bào có thể làm tăng nguy cơ tắc mạch do huyết khối.

Vọp bẻ ở chân và đau cơ đã được báo cáo là thường xảy ra ở bệnh nhân sử dụng Nolvadex.

Ít gặp các trường hợp viêm phổi mô kẽ đã được ghi nhận.

Nolvadex có liên quan đến thay đổi nồng độ men gan và một số tình trạng bất thường ở gan trầm trọng hơn, mà trong vài trường hợp có thể dẫn đến tử vong, kể cả gan nhiễm mỡ, ứ mật và viêm gan, suy gan, xơ gan, tổn thương tế bào gan (bao gồm hoại tử gan).

Thường gặp hiện tượng tăng nồng độ triglycerid huyết thanh, trong vài trường hợp có thể xảy ra viêmtụy do dùng Nolvadex.

Ít gặp ung thư nội mạc tử cung và hiếm gặp trường hợp sacôm tử cung (hầu hết ở dạng u Mullarian  thể hỗn hợp ác tính) có liên quan đến điều trị bằng Nolvadex.

Viêm da lupus ban đỏ rất hiếm khi quan sát thấy ở những bệnh nhân dùng Nolvadex.

Rối loạn chuyển hóa porphyrin rất hiếm khi quan sát thấy ở những bệnh nhân dùng Nolvadex.

QUÁ LIỀU

Theo lý thuyết, việc dùng quá liều làm tăng các tác động dược lý được nêu trên. Các quan sát thực  nghiệm trên động vật cho thấy với liều rất cao (100 – 200 lần so với liều dùng hàng ngày), Nolvadex có thể gây ra các tác dụng oestrogen.

Đã có báo cáo trong y văn là Nolvadex khi dùng với liều gấp nhiều lần liều chuẩn có thể liên quan  đến sự kéo dài đoạn QT trên điện tâm đồ.

Hiện không có thuốc giải độc đặc hiệu dùng cho trường hợp quá liều và biện pháp xử trí là điều trị  triệu chứng.

ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC

Nolvadex (tamoxifen) thuộc nhóm triphenylen, không steroid có tác động kết hợp của các tác dụng  dược lý tương tự chất đồng vận oestrogen và đối kháng oestrogen ở các mô khác nhau, ở bệnh nhân  ung thư vú, tại khối u tamoxifen tác động chủ yếu như một chất kháng oestrogen, ngăn chặn  oestrogen gắn kết vào thụ thể oestrogen. Trên lâm sàng người ta nhận thấy tamoxifen làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần và LDL trong máu khoảng 10 – 20% ở phụ nữ trong thời kỳ hậu mãn kinh.  Tamoxifen không có tác động bất lợi trên mật độ khoáng của xương.

Một nghiên cứu không có đối chứng đã được thực hiện trên một nhóm không đồng nhất gồm 28 bệnh nhi nữ từ 2 – 10 tuổi bị hội chứng McCune Albright sử dụng 20mg tamoxifen một lần mỗi ngày trong 12 tháng. Trong số các bệnh nhân bị xuất huyết âm đạo trong giai đoạn trước nghiên cứu, 62% (13  trong tổng số 21 bệnh nhân) không bị xuất huyết âm đạo trong 6 tháng và 33% (7 trong tổng số 21  bệnh nhân) không bị xuất huyết âm đạo trong suốt thời gian nghiên cứu. Thể tích trung bình tử cung  tăng sau 6 tháng điều trị và tăng gấp đôi vào cuối thử nghiệm kéo dài 1 năm. Mặc dù các ghi nhận  này phù hợp với đặc tính dược lực học của tamoxifen, mối liên hệ nhân quả chưa được thiết lập (xem lưu ý và thận trọng khi sử dụng thuốc “). Chưa có dữ liệu về tính an toàn dài hạn đối với trẻ em. Cụ  thể là, tác động dài hạn của tamoxifen đối với sự tăng trưởng, dậy thì và phát triển chung chưa được  nghiên cứu.

ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC

Sau khi uống, Nolvadex được hấp thu nhanh với nồng độ tối đa trong huyết thanh đạt được trong  vòng 4 – 7 giờ. Nồng độ ở trạng thái hằng định (khoảng 300 ng/ml) đạt được sau 4 tuần điều trị với  liều 40mg mỗi ngày. Thuốc gắn kết mạnh với albumin huyết thanh (> 99%). Chuyển hoá bằng cách  hydroxy hoá, demethyl hoá và liên hợp, tạo thành những chất chuyển hóa có tác động dược lý tương  tự với hợp chất gốc và góp phần vào tác động điều trị. Đào thải chủ yếu qua phân, thời gian bán thải  khoảng 7 ngày đối với tamoxifen và 14 ngày đối với chất chuyển hóa chính trong tuần hoàn, Ndesmethyltamoxifen. Trong một thử nghiêm  lâm sàng khi cho bệnh  nhi nữ  2 – 10 tuổi bị hội  chứng McCune Albright sử dụng 20mg tamoxifen một lần mỗi ngày trong 12 tháng,  đã ghi nhận  sự giảm độ thanh thải tùy thuộc  tuổi và tăng mức tiếp xúc-diện tích dưới đường cong nồng độ theo  thời gian AUC (tăng đến 50% ở bệnh nhi nhỏ tuổi nhất) so với ở người lớn.

*DỮ LIỆU TIỀN LÂM SÀNG VỀ TÍNH AN TOÀN

Tamoxifen không gây đột biến trong các thử nghiêm gây đột biến in vitro và in vivo.Tamoxifen không gây độc cho gen trong vài thử nghiêm in vitro và các thử nghiêm gây độc tính trên gen ở loài gặm  nhấm, u tuyến sinh dục ở chuột nhắt và u gan ở chuột cống dùng tamoxifen được ghi nhận trong các  nghiên cứu dài hạn. Mối liên quan trên lâm sàng của những dấu hiệu này chưa được xác định.

Tamoxifen là một thuốc đã có nhiều kinh nghiệm lâm sàng được ghi nhận. Thông tin liên quan cho  bác sĩ điều trị được cung cấp trong thông tin kê toa.

*Tương kỵ

Chưa có tương kỵ nào được biết.

HẠN DÙNG VÀ BẢO QUẢN

Bảo quản

Không bảo quản trên 30°C. Bảo quản trong bao bì gốc.

Hạn dùng

5 năm kể từ ngày sản xuất.

 

Ngày hiệu đính toa thuốc: tháng 5/2012

ĐỌC KỸ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRƯỚC KHI DÙNG. NẾU CẦN THÊM THÔNG TIN XIN  HỎI Ý KIẾN BÁC SĨ.

THUỐC NÀY CHỈ DÙNG THEO SỰ KÊ ĐƠN CỦA BÁC SĨ.

THÔNG BÁO CHO BÁC SĨ BIẾT NHỮNG TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN GẶP PHẢI KHI DÙNG THUỐC.

ĐỂ XA TẦM TAY TRẺ EM.

Sản xuất theo tiêu chuẩn dược điển Anh (B.P.)

  • NHÀ SẢN XUẤT: AstraZeneca UK Limited

Silk Road Business Park

Macclesfield, Chelshire, SK10 2NA, Anh.

Tel: 01625 582828    Fax: 01625 583074

Nolvadex is trademark of the AstraZeneca group of companies.

 AstraZeneca 2012

GEL: ONC.000-016-790.8.0


AstraZeneca

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Thuốc NOLVADEX và NOLVADEX-D điều trị ung thư vú”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *