Enter your keyword

Một số cách đưa thuốc theo đường tiêm
5 (100%) 1 vote

1. Đường tĩnh mạch (IV)

Ưu điểm

Thuốc tiêm hoặc truyền tĩnh mạch có ưu điểm nổi bật là sinh khả dụng bảo đảm (100%), tác dụng nhanh (gần như tức thì) rất cần cho các trường hợp cấp cứu. Đường tĩnh mạch là đường được lựa chọn nếu thuốc tiêm cần đưa liều lớn vì lúc này có thể truyền thuốc vào mạch (có thể đưa vào tĩnh mạch người lớn tới 3 lít dung dịch mỗi ngày). Nhược điểm của đường dưa thuốc này là phức tạp, dễ gây tai biến như viêm tắc tĩnh mạch (với các dung dịch ưu trương). Tai biến thường gặp là tụt huyết áp (thường do tiêm quá nhanh), tràn dịch ra ngoài mạch (nguy hiểm với các thuốc có thể gây hoại tử mô), nhiễm khuẩn huyết, tụ máu chỗ tiêm.

Những thuốc hay dùng qua đường tĩnh mạch:

Các hoạt chất có dộ kích ứng cao, gây đau hoặc hoại tử cơ khi tiêm bắp như penicilin G, dung dịch calci clorid, các dung dịch ưu trương (như glucose 30%, trường hợp này tốt nhất là đưa qua tĩnh mạch trung tâm), các chất để bù thể tích dịch lưu hành (các loại dịch truyền tinh.thể, dung dịch gelatin, amidon, dextran, albumĩn), nhũ dịch lipid.

Những trường hợp không được đưa qua đường tĩnh mạch:

  • Các dung dịch dầu, hỗn dịch.

Các cách đưa thuốc vào tĩnh mạch:

  • Tiêm tĩnh mạch trực tiếp: Thuốc được dùng với một lượng nhỏ dung môi (5 – 10 ml) và được bơm thẳng vào tĩnh mạch trong khoảng thời gian 3 – 7 phút. Đây là cách dùng phổ biến của đường đưa thuốc này. Nhược điểm thường mắc phải là người tiêm ít chú ý đến tốc độ tiêm, thường tiêm quá nhanh (< 1 phút) nên dễ dẫn dến sốc.
  • Truyền tĩnh mạch quãng ngắn: Thuốc được pha loãng trong khoảng 50 – 200 ml dịch truyền rồi truyền trong khoảng 30 – 60 phút. Mục đích của cách dùng này nhằm tránh tác dụng quá kích ứng lên thành mạch của một số thuốc (licomycin, gentamicin) dẫn đến tụt huyết áp.
  • Truyền tĩnh mạch kéo dài: Mục đích là để duy trì nồng độ thuốc trong máu trong thời gian dài. Lượng dịch truyền dùng để pha thuốc có thể nhiều lít, tùy thuộc quãng truyền và nồng độ thuốc cần duy trì. Các thuốc kháng sinh hay truyền theo kiểu này là ampicilin, penicilin G.

2. Tiêm bắp

Tiêm bắp là cách dùng phổ biến nhất so với các thuốc đưa ngoài đường tiêu hóa vì dễ thực hiện hơn so với các phương pháp tiêm khác. Hầu hết các thuốc ở dạng tiêm đều có thể đưa qua đường này, đặc biệt đây là đường ưu tiên cho các loại dung dịch dầu, hỗn dịch, các dạng thuốc tiêm tác dụng kéo dài (thường là các dạng muối không tan).

 

Những điểm cần lưu ý:

  • – Không được tiêm bắp:+ Những chất có tác dụng kích ứng mạnh tổ chức hoặc gây hoại tử, dung dịch ưu trương, dung dịch có pH quá acid hoặc quá kiềm.

    + Nếu người bệnh đang sử dụng thuốc chống đông máu hoặc các thuốc tiêu fibrin.

    + Những bệnh nhân đang ở trạng thái sốc, có hiện tượng giảm tưới máu ngoại vi.

    – Trong dung môi tiêm bắp: người ta thường cho thêm lidocain (0,5 – 0,8%) hoặc alcol benzylic (3%) trong trường hợp tiêm các thuốc có độ kích ứng mạnh, gây đau (thí dụ: kháng sinh nhóm cephalosporin, amoxicilin), những trường hợp này tuyệt đối không được đưa vào tĩnh mạch vì có thể dẫn đến ngừng tim

  • – Không nên sử dụng đường đưa thuốc này cho trẻ sơ sinh vì cơ bắp của trẻ nhỏ chưa phát triển đầy đủ nên sự hấp thu thuốc sẽ thất thường, lại hay gây tổn thương cơ. Với đối tượng này, đường đưa thuốc ưu tiên là tiêm tĩnh mạch.
  • – Không nên tiêm > 10 mỉ (với người lớn) vào một chỗ vì dễ gây áp-xe.
    Nếu thuốc tiêm có dung môi không phải là nước thì không được để lâu trong bơm tiêm nhựa (piastic), trường hợp này tốt nhất nên dùng bơm tiêm thủy tinh.

3. Tiêm dưới da

Khả năng hấp thu thuốc của đường tiêm dưới da chậm hơn so với tiêm bắp và nồng độ thuốc trong máu cũng giữ được lâu hơn, do đó người ta thường lợi dụng với những trường hợp cần kéo dài tác dụng của thuốc, thí dụ tiêm morphin để giảm đau trong đau do ung thư, tiêm insulin, glucagon.

Kỹ thuật tiêm dưới da khó hơn so với tiêm bắp, vì vậy với một số thuốc phải tiêm dưới da thường xuyên như insulin, người ta thường chế ra các loại bơm tiêm đặc biệt (dạng ngòi bút) đổ dễ thực hiện.

* Những điểm cần lưu ý:

  • Không nên tiêm > 1 ml vào dưới da.
  • Không dùng cho bệnh nhân đang ở trạng thái sốc, có tổn thương mô dưới da, có hiện tượng kém tưới máu vào tổ chức da.
  • Nén thường xuyên thay đổi vị trí tiêm: thí dụ tiêm Insulin để tránh tiêu tổ chức mỡ dưới da.

4. Tiêm trong da

 

Đây là cách tiêm để thử các phản ứng dị ứng thuốc (test penicilin), phản ứng dị ứng lao (tuberculin), tiêm chủng ngừa lao (BCG). Thuốc hấp thu theo đường này thường chậm. Vị trí được chọn để tiêm thường là mặt trước cánh tay, lưng.

5.Các đường tiêm khác

  • Các cách tiêm khác ít phổ biến hơn và chỉ dùng chuyên biệt cho một số loại thuốc.
    1. Tiêm ngoài màng cứng (epidural):

    • Thường dùng trong gây tê vùng, giảm đau sau phẫu thuật hoặc điều trị đau kéo dài.
    • Thuốc thường dùng là lidocain 0,5 – 2%, bupivacain 0,25 – 0,5%, adrenalin lp. 100.000, Ip. 200.000.

    Chống chỉ định: Nhiễm khuẩn toàn thân hoặc tại vùng tiêm, rối loạn thể dịch, giảm thể tích máu, có rối loạn dẫn truyền thất hoặc nhĩ-thất.

    Tai biến có thể gặp: Tụt huyết áp, nhiễm khuẩn, bí tiểu tiện.

    Tiêm vào khớp

    • Thường dùng để giảm đau, chống viêm khớp.
    • Thuốc thường dùng là các corticoid như triamcinolon acetonid (Kenacort retarđ 80), betamethason phosphat (Betnesol), hydrocortison acetat (Hydrocortisone Roussel).
    • Chống chỉ định:

    Có nhiễm khuẩn ở vùng tiêm hoặc gần chỗ tiêm, viêm khớp do nhiễm khuẩn.

    Lưu ý: Phải tiêm trong điều kiện tuyệt đối vô khuẩn.

copy ghi nguồn: https://nhathuocngocanh.com/

link bài viết: https://nhathuocngocanh.com/mot-cach-dua-thuoc-theo-duong-tiem/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *