Enter your keyword

Lựa chọn thuốc điều trị tăng huyết áp thai kỳ
4.5 (90%) 2 votes

THUỐC DÙNG ĐƯỜNG UỐNG TRONG ĐIỀU TRỊ THA THAI KỲ NHẸ VÀ TRUNG BÌNH

Methyldopa là một thuốc đầu tay trong kiểm soát tăng huyết áp nhẹ và trung bình trong thai kỳ và được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trong đó có Anh và Mỹ. Thuốc này được công nhận độ an toàn cao cho cả mẹ và thai nhi; kết quả khả quan ngay cả cho những theo dõi kéo dài 4-7 năm sau sinh. Sử dụng kéo dài Methyldopa trong thai kỳ không làm ảnh hưởng đến cung lượng tim của mẹ hay dòng máu đến tử cung và thận.

điều trị huyết áp trong thai kỳ

Hình ảnh minh họa: điều trị huyết áp trong thai kỳ

Labetalol là một thuốc chẹn cả receptor α và β cho thấy hiệu quả trong điều trị tiền sản giật và tăng huyết áp không có protein niệu ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu không phát hiện sự ảnh hưởng của việc dùng thuốc lên dòng máu đến thận và tử cung. So sánh các sản phụ dùng Methyldopa và Labetalol để điều trị tăng huyết áp nhẹ đến trung bình đều đạt được hiệu quả đáng kể và không có sự khác biệt trong việc ảnh hưởng tới các yếu tố như độ dài thai kỳ, cân nặng thai hay thai chậm phát triển. Tuy nhiên, bởi vì các số liệu nghiên cứu về độ an toàn của Methyldopa phong phú hơn Labetalol rất nhiều nên Labetalol chỉ được xếp vào hàng thứ hai trong các lựa chọn để điều trị THA thai kỳ kéo dài.

Các số liệu hiện tại là không đủ để phủ nhận tác dụng phụ của việc dùng β-blocker sớm và kéo dài trong thai kỳ. Khi dùng ít hơn 6 tuần trong quý 3 thai kỳ, β-blocker cho thấy rất hiệu quả và không có dấu hiệu ảnh hưởng sự phát triển của thai nhi.

Việc sử dụng thuốc ức chế chọn lọc β1 Atenolol sớm trong thai kỳ ở phụ nữ có THA mạn tính được ghi nhận dẫn đến trẻ sinh ra nhẹ cân hơn rõ rệt so với nhóm dùng giả dược hoặc dùng nhóm hạ áp khác. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng Atenolol có ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi và tác động này phụ thuộc vào độ dài liệu trình. Do đó, không nên sử dụng Atenolol vào đầu thai kỳ và chỉ nên sử dụng nếu thật sự cần thiết vào giai đoạn sau của thai kỳ.

Khi được sử dụng vào cuối thai kỳ, các thuốc chẹn Calci dùng đường uống cho thấy khả năng giảm huyết áp ở thai phụ trong các trường hợp THA nhẹ đến trung bình, bao gồm các trường hợp tiền sản giật mà không ghi nhận bất kỳ bằng chứng rõ ràng nào về tác dụng phụ lên thai nhi hoặc lên quá trình sinh. Tuy nhiên hiệu quả của việc dùng nhóm thuốc này kéo dài và nhất là trong 3 tháng đầu thai kỳ là không rõ ràng. Trong các thuốc chẹn kênh Calci, Nifedipine là thuốc đã được nghiên cứu rõ ràng nhất và được dùng rộng rãi trong điều trị THA ở cuối thai kỳ.

Hydralazine dùng đường uống – một thuốc giãn mạch trực tiếp – cho thấy hiệu quả trong cả đơn trị liệu hoặc trong kết hợp với Methyldopa trong kiểm soát THA dài hạn trong thai kỳ. Hydralazine được ghi nhận là an toàn với thai nhi mặc dù vẫn có một vài trường hợp giảm tiểu cầu ở thai nhi được báo cáo. Thông thường thì Hydralazine được sử dụng kết hợp với các thuốc khác, ví dụ như Methyldopa hoặc β-Blocker, và sự kết hợp này có thể giúp hạn chế tác dụng cường giao cảm của Hydralazine.

Việc sử dụng ACEI trong quý 2 và quý 3 thai kỳ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi, bao gồm chậm phát triển, suy thận, hiện tượng còn ống thông động mạch, hội chứng hô hấp nguy ngập, hội chứng huyết áp thấp ở thai nhi, và thai chết lưu. Mặc dù việc sử dụng ACEI trong quý đầu thai kỳ có thể vẫn chưa ảnh hưởng nhiều, nhưng bệnh nhân nữ bị THA vẫn nên dừng thuốc này lại trước khi mang thai. Cùng với ACEI, ARBs cũng là nhóm thuốc không được chỉ định trong thai kỳ.

Trong khi nhóm thuốc lợi tiểu được báo cáo là có thể ngăn ngừa tiền sản giật, các thuốc này hiếm khi được kê để điều trị THA trong thai kỳ bởi vì chúng làm giảm khối lượng tuần hoàn mẹ và có thể dẫn đến rối loạn điện giải.

ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP THAI KỲ NGHIÊM TRỌNG BẰNG THUỐC DÙNG NGOÀI ĐƯỜNG TIÊU HÓA

Trong trường hợp THA nghiêm trọng ở thai phụ, các thuốc hạ áp tác dụng nhanh dùng đường tĩnh mạch sẽ được sử dụng.

Hydralazine đường tĩnh mạch là thuốc đầu tay và có lẽ là thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trong trường hợp THA nghiêm trọng trong thai kỳ. Điểm mạnh của nó là không gây tác dụng phụ lên hệ tuần hoàn thai nhi, tác dụng kéo dài và dễ dàng sử dụng. Điểm yếu của nó là nó có thể gây ra triệu chứng giả sản giật, hay một hội chúng bao gồm tan máu, tăng men gan và giảm tiểu cầu; hạ huyết áp mẹ và giảm nhịp tim thai; và tăng khả năng loạn nhịp trong sản giật.

Việc sử dụng Labetalol trong điều trị THA nghiêm trọng trong thai kỳ ít được ghi nhận; tuy nhiên các nghiên cứu gợi ý rằng độ an toàn của Labetalol dùng ngoài đường tiêu hóa ít nhất cũng ngang với Hydralazine. Tuy vậy, các đã có báo cáo về các trường hợp suy thai và nhịp chậm ở trẻ sơ sinh sau dùng Labetalol.

Nifedipine tác dụng nhanh (đường uống/ngậm dưới lưỡi) đã được báo cáo là an toàn và hiệu quả như Hydralazine dùng đường tĩnh mạch trong điều trị THA cấp tính nghiêm trọng ở thai phụ. Cũng giống các thuốc khác dùng để điều trị THA nghiêm trọng trong thai kỳ, Nifedipine tác dụng nhanh có thể gây hạ huyết áp mẹ (và gây suy thai). Nguy cơ xảy ra biến chứng tăng lên khi kết hợp Nifedipine với MgSO4 trong xử trí sản giật. Một vài nước đã dừng sử dụng Nifedipine tác dụng nhanh.

Diazoxide là một thuốc hạ áp có thể ảnh hưởng chuyển hóa đường. Nó nên được để dành trong các trường hợp THA nghiêm trọng không đáp ứng với Hydralazine, Nifedipine hay Labetalol.

Natri Nitropruside là một thuốc hạ áp tiềm năng khác, tuy nhiên nó lại có khả năng gây tác dụng không mong muốn lên thai nhi, do đó chỉ nên sử dụng như là lối thoát cuối cùng.

Bảng liều dùng các thuốc hạ áp dùng trong thai kỳ

Bảng liều dùng các thuốc hạ áp dùng trong thai kỳ
Tác giả: Bác sĩ Phạm Ngọc Tân.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *