Ngân Kiều Tán

Ngân kiều tán có xuất xứ từ “Ồn bệnh điều biện”, gồm liên kiều 9g, ngân hoa 9g, cát cánh 6g, bạc hà 6g, trúc diệp 4g, sinh cam thảo 5g, kinh giới tuệ 5g, đạm đậu xị 5g, ngưu bàng tử 9g, lô căn 15g.

Phương thuốc Ngân kiều tán có xuất xứ từ quyển “Ồn bệnh điều biện”
Phương thuốc Ngân kiều tán có xuất xứ từ quyển “Ồn bệnh điều biện”

Công năng chủ trị

Ngân kiều tán có công năng tân lương giải biểu, thanh nhiệt giải độc. Chủ trị ôn bệnh (sởi) mới mắc, biểu hiện sốt không có mồ hôi hoặc có mồ hôi mà khó chịu, hơi sợ gió lạnh, đau đầu miệng khát, ho, đau họng, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng hoặc mỏng vàng, mạch phù, sác.

Ôn bệnh theo YHCT tương tự như chứng bệnh viêm nhiễm và truyền nhiễm của YHHĐ trong đó viêm nhiễm đựờng hô hấp là chính.

Tác dụng dược lý

Hạ sốt:

Trên động vật thí nghiệm, dịch chiết nước Ngân kiều tán, trà túi lọc, cốm ngân kiều giải độc… đều có tác dụng hạ sốt do nhiều tác nhân gây sốt khác nhau như vaccin thương hàn, vaccin sởi-ho gà-bạch hầu, vaccin pentavalent, chí nhiệt tố, 2,4 dinitrophenol, nấm men ở chuột cống trắng và thỏ.

Ngân kiều hoàn có tác dụng hạ sốt trên thỏ gây sốt thực nghiệm bằng vaccin 3 trong 1; nước sắc có tác dụng hạ sốt thực nghiệm do nội độc tố coli và pepton trên chuột cống trắng.

Trong phương, nhóm thuốc giải biểu (kinh giới, bạc hà, ngưu bàng tử, đạm đậu xị) có tác dụng hạ sốt nhanh, thời gian duy trì ngắn, còn nhóm thuốc thanh nhiệt (kim ngân hoa, liên kiều, cát cánh, trúc diệp, sinh cam thảo, lô căn) có tác dụng chậm, thời gian tác dụng kéo dài, toàn phương có tác dụng tốt nhất.

Ngân kiều tán có khả năng ức chế neuron thần kinh tăng nhiệt (vùng dưới đồi) trên chuột bĩnh thường, có tác dụng giải trừ ức chế cùa tác nhân gây sốt lên tế bào thần kinh gây sốt nhiệt, đồng thời ức chế neuron lạnh (CSN) phát xung động, dẫn đến làm giảm sinh nhiệt của cơ thể, cho thấy tác dụng hạ sốt của Ngân kiều tán có liên quan đến TKTW.

Chống viêm

Các dạng bào chế từ Ngân kiều tán đều có tác dụng ức chế rõ rệt tác nhân gây viêm như histamin, PGE gây tăng tính thấm mao mạch dưới da chuột nhắt trắng; đồng thời có tác dụng chống viêm thực nghiệm trên mô hình phù chân chuột do lòng hắng trứng, carrageenan hoặc dextran hay trên mô hình phù tai do dầu croton, xylen; dịch chiết nước còn có tác dụng ức chế viêm mạn trên mô hình gây u hạt thực nghiệm.

Giảm đau

Ngân kiều tán có tác dụng giảm đau rõ rệt, dùng đường uống có tác dụng giảm cơn đau quặn trên chuột nhắt trắng do acid acetic gây ra.

Khảng khuẩn, khảng virus:Ngân kiều tán sắc riêng, sắc chung, hoặc cốm đều có tác dụng ức chế Streptococcusnhóm A và B, Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus… trong đó dịch sắc chung toàn phương có tác dụng mạnh nhất, cả 3 loại dịch sắc đều có tác dụng giảm tỷ lệ tử vong ở chuột nhắt trắng gây ra bởi Staphylococcus aureus, ức chế virus cúm gây viêm phổi trên chuột nhắt trắng, làm giảm chỉ số phổi.

Các hoạt chat forsythin; forsythiaside; glycyrrhizin; glycyrrhizin; genistein; formononetin; 3,3,4- trimethoxybenzaldehyd, acid chlorogenic… được phân lập từ ngân kiều tán đều có hiệu lực kháng Như vậy, thành phần chủ yếu có tác dụng kháng virus là lignan và flavonoid.

Trên lâm sàng, Ngân kiều tán được dùng trong điều trị viêm cơ tim do virus, trẻ em quai bị, nhiễm trùng đường hô hấp dưới do virus có hiệu quả tốt.

Ảnh hưởng đến hệ miễn dịch

Ngân kiều tán làm tăng năng lực thực bào của đại thực bào phúc mạc chuột nhắt trắng đối với hồng cầu gà, đồng thời kích thích sản sinh kháng thể kháng nội độc tố.

Phương thuốc có khả năng chống dị ứng rõ rệt, chống dị ứng da ở chuột nhắt trắng do dinitrochlorobenzen gây ra, ức chế phản ứng quá mẫn trên chuột cống trắng và chuột nhắt trắng do trichosanthin (TCS) gây ra, chống sốc phản vệ trên chuột nhắt trắng.

Tóm lại

Công năng tân lương giải biểu, thanh nhiệt giải độc của Ngân kiều tản có liên quan đến tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm, chống dị ứng, kháng khuẩn, kháng virus… đây là cơ sở quan trọng trong điều trị sốt, đau đầu, miệng khát, ho đau họng…; tác dụng tăng cường miễn dịch phù họp với công năng phù chính khu tà, tăng cường sức đề kháng của người bệnh.

Trên lâm sàng thường được sử dụng trong điều trị cảm cúm, viêm phổi, viêm hầu họng, herpes, sởi, viêm amiđan, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác.

Độc tính và tác dụng phản ứng bất lợi

Đôi khi có thể phản ứng dị ứng.

Không tìm thấy sản phẩm nào khớp với lựa chọn của bạn.