CHẨN ĐOÁN VIÊM PHẾ QUẢN CẤP VÀ TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG

Enter your keyword

CHẨN ĐOÁN VIÊM PHẾ QUẢN CẤP VÀ TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG
5 (100%) 2 votes

Chẩn đoán viêm phế quản cấp và biến chứng

1. CHẨN ĐOÁN

1.1. Chẩn đoán viêm phế quản cấp xác định dựa vào

  • Triệu chứng của viêm đường hô hấp trên

Nhẹ: viêm họng đỏ, chảy nước mũi.

Nặng: viêm mũi mủ, viêm xoang, viêm amiđan, viêm tai giữa.

  • Triệu chứng của viêm đường hô hấp dưới

Nhẹ: ho, khàn tiếng, thở khò khè và dấu hiệu của viêm đường hô hấp trên, nghe phổi có thể có ran ngáy, ran rít.

Nặng: ngoài những triệu chứng trên, khó thở rõ rệt, co kéo lồng ngực, tím, nhịp thở nhanh trên 30 lần/phút. Nghe phổi có ran rít, ran bọt ở vùng đáy phổi phía sau lưng.

1.2. Chẩn đoán viêm phế quản cấp phân biệt

  • Ở trẻ em nếu triệu chứng viêm phế quản kéo dài, cần nghĩ đến hạch ở trung thất, chèn ép phế quản, dị vật phế quản hoặc giãn phế quản.
  • Ở người lớn: nhiều bệnh phổi có biểu hiện viêm phế quản. Ví dụ như: lao phổi với hang lao đổ vào phế quản, bệnh bụi phổi, ung thư phổi. Không nghĩ đến viêm phế quản nếu triệu chứng nghe phổi chỉ ở một bên.
  • Ứ đọng ở phổi trong trường hợp suy tim (có triệu chứng suy tim).
  • Hen phế quản tăng tiết dịch: sau cơn hen thì hết các triệu chứng.

2. TIẾN TRIỂN, BIẾN CHỨNG

2.1. Tiến triển trước mắt

Tiên lượng gần của viêm phế quản cấp nói chung là tốt. Tuy nhiên tiến triển trước mắt có thể đáng lo ngại hơn ở một số cơ địa như suy hô hấp mạn tính, hen phế quản; hoặc suy tim và trong trường hợp viêm tiểu phế quản ở trẻ nhỏ. Ở người lớn tuổi, tình trạng suy yếu hệ thống miễn dịch bảo vệ, và các biến đổi về giải phẫu tại chỗ có thế làm cho bệnh dễ lan tới các tiểu phế quản tận và các phế nang dẫn đến bệnh cảnh viêm phổi cấp với tiên lượng nặng hơn.

2.2. Tiến triển lâu dài

Phần lớn bệnh khỏi hoàn toàn không để lại di chứng. Bệnh tái phát nhiều lần có thể dẫn đến giãn phế quản hoặc viêm tiểu phế quản bít tắc, nhất là ở trẻ em.

  • Viêm tiểu phế quản bít tắc

Ở trẻ em sau viêm tiểu phế quản do virus, sự viêm và hoại tử nghiêm trọng biểu mô phế quản. Có thể dẫn tới tăng sinh rất mạnh các tế bào biểu mô phủ tiểu phế quản gây bít tắc lòng phế quản bởi tổ chức xơ sẹo. Bệnh cảnh lâm sàng biểu hiện bằng suy hô hấp mạn tính. Với triệu chứng khó thở, ho và tiếng bất thường đặc trưng nghe thấy ở thì hít vào. Về chức năng hô hấp thường có rối loạn thông khí tắc nghẽn nặng. Không hồi phục với thuốc giãn phế quản cường β2 hoặc corticoid. Tiên lượng không biết trước được, thường nặng, đôi khi cải thiện tạm thời với corticoid hoặc thuốc ức chế miễn dịch.

Ở người lớn sau nhiễm trùng do virus hiếm khi xuất hiện viêm tiểu phế quản bít tắc. Và nếu có thì phải tìm xem bệnh nhân có bị các bệnh hệ thống (xơ cứng bì, viêm đa khớp dạng thấp). Hoặc một số nguyên nhân do dùng thuốc (điều trị bằng D-penicillamine).

  • Chứng tăng tính phản ứng phế quản

Tăng tính phản ứng phế quản và/hoặc rối loạn thông khí tắc nghẽn thoáng qua có thể gặp trong mọi trường hợp viêm phế quản cấp. Ngay cả ở những người trước đây không hề bị các bệnh hô hấp. Các rối loạn này, thường thấy sau khi bị viêm phế quản do virus hoặc do mycoplasma. Có thể biến đi ở 40% các trường hợp trong vòng 2 tháng sau đợt viêm khởi phát. Vì vậy cần chờ sau thời gian này mới nên kết luận là có tình trạng tăng tính phản ứng phế quản hoặc có hen phế quản.

Chẩn đoán viêm phế quản cấp và tiến triển, biến chứng./.

Copy vui lòng ghi nguồn nhathuocngocanh.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *