Enter your keyword

Chẩn đoán táo bón chức năng
5 (100%) 1 vote

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Một nhóm làm việc đa quốc gia đã xây dựng tiêu chuẩn cho rối loạn chức năng dạ dày – ruột, được gọi là tiêu chuẩn “Rome IV”.

bệnh táo bón ở trẻ em

Hình ảnh: bệnh táo bón ở trẻ em

Đối với trẻ có tuổi xuất hiện triệu chứng từ 4 tuổi trở lên, táo bón chức năng được định nghĩa là sự có mặt của ít nhất 2 trong số các triệu chứng sau ít nhất 1 lần/ tuần trong ít nhất 1 tháng., và không tìm thấy tình trạng bệnh lý khác gây ra:

  • Đi ngoài từ 2 lần trở xuống / tuần.
  • Ít nhất 1 lần són phân / tuần.
  • Tiền sử có tư thế nhịn đi ngoài hoặc có hành vị nhịn đi ngoài quá nhiều.
  • Tiền sử đi ngoài đau hoặc khó.
  • Có khối phân lớn ở trực tràng.
  • Tiền sử có phân có đường kính lớn có thể gây tắc nhà vệ sinh.

Đối với trẻ nhũ nhi và mới biết đi, tiêu chuẩn được thay đổi để phản ánh các kĩ năng đi ngoài phù hợp theo tuổi.

bệnh táo bón ở trẻ em

Loại trừ các nguyên nhân thực thể

Chẩn đoán táo bón chức năng là loại trừ các nguyên nhân thực thể của triệu chứng. Các nguyên nhân thực thể chỉ chiếm nhỏ hơn 5% ở những trẻ bị táo bón, nhưng thường gặp hơn ở trẻ sơ sinh, và trẻ có các đặc điểm không điển hình hoặc “dấu hiệu báo trước”.

Cần đặc biệt chú ý đến các nguyên nhân sau đây, là tương đối thường gặp hoặc cần phải chẩn đoán khẩn cấp:

– Các nguyên nhân thực thể thường gặp:

  • Không dung nạp sữa bò (hoặc protein khác); bệnh celiac; suy giáp.

– Các nguyên nhân khẩn cấp:

  • Trẻ sơ sinh – bệnh Hirschprung, dị tật bẩm sinh cột sống, u quá cùng cụt, ngộ độc sơ sinh.
  • Tất cả các lứa tuổi – Bệnh xơ nang, ngộ độc chì, tắc ruột.

Xét nghiệm thêm

Trong hầu hết các trường hợp, các nguyên nhân thực thể của táo bón có thể được loại trừ trên cơ sở khai thác bệnh sử và thăm khám cẩn thận. Nếu có các dấu hiệu cảnh báo về khả năng bị táo bón thực thể, thì nên thực hiện các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh. Ngoài ra, những xét nghiệm này cũng phù hợp với những bệnh nhân không đáp ứng với một phác đồ can thiệp cẩn thận, bao gồm tháo nghẹt, sử dụng thuốc nhuận tràng thường xuyên và hiệu quả, và điều chỉnh hành vi.

Hình ảnh

Chụp X quang bụng

Xquang bụng thông thường không được chỉ định để đánh giá định kỳ táo bón chức năng. Tuy nhiên, sẽ hữu ích trong trường hợp tiền sử không đầy đủ để xác định bệnh nhân có bị táo bón hay không hoặc khó thăm khám vì bệnh nhân không hợp tác, béo phì, hoặc vấn đề tâm lí. Cần phải biết rằng xquang bụng không được thống nhất giải thích giữa các bác sĩ khác nhau, không đặc hiệu đặc biệt với táo bón, và hiếm khi được chỉ định để chẩn đoán nếu thăm trực tràng thấy một lượng lớn phân. Do đó, xquang bụng không phải là thiết yếu để đánh giá táo bón và không nên sử dụng để thay thế cho bệnh sử và thăm khám toàn diện.

chẩn đoán táo bón

X quang cản quang

Chụp xquang có dùng barit giúp hỗ trợ chẩn đoán bệnh Hirschprung ở trẻ có các đặc điểm gợi ý rối loạn này, như táo bón bắt đầu sớm từ giai đoạn sơ sinh, đặc biệt chậm đi ngoài phân su, hoặc các đặc điểm gợi ý khi thăm khám hậu môn. Xét nghiệm phải được thực hiện “không được chuẩn bị”, ví dụ, không loại bỏ phân khỏi trực tràng. Một số bác sĩ thực hiện đo áp lực hậu môn trước hoặc trực tiếp tiến hành sinh thiết trực tràng. Ở những trẻ rất nhỏ, chụp xquang có barit có thể bình thường và chẩn đoán phải được xác định bằng sinh thiết trực tràng.

Chụp X quang cột sống

Phim cột sống thắt lưng thường quy phải được thực hiện ở những trẻ có bằng chứng của dị tật bẩm sinh cột sống hoặc suy yếu thần kinh của vùng quanh hậu môn hoặc chi dưới. Nếu có nghi ngờ về rối loạn chức năng thần kinh thì xem xét chụp MRI để kiểm tra khả năng bị cứng cột sống hoặc u tủy sống.

chẩn đoán táo bón

Hình ảnh: chẩn đoán táo bón

Xét nghiệm

Sàng lọc Celiac

Với những trẻ không phát triển hoặc đau bụng tái phát, hãy kiểm tra CTM và xét nghiệm huyết thanh học với bệnh celiac (thường là kháng thể IgA với tránsglutaminase mô). Các triệu chứng của bệnh celiac có thể khó phát hiện.

Tổng phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu

Với những trẻ có tiền sử tắc nghẽn trực tràng sigma, đặc biệt khi kèm theo són phân, thì thực hiện tổng phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu. Vì sự tắc nghẽn phân có thể dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu do ảnh hưởng cơ học của trực tràng bị giãn lên bàng quang.

TSH

Với những trẻ chậm phát triển chiều cao và phản xạ chậm, hoặc có tiền sử của bệnh thần kinh trung ương, chúng tôi đề nghị sàng lọc suy giáp. Tốc độ tăng chiều cao nhỏ hơn 5 cm/năm cho thấy khả năng chậm tăng trưởng ở trẻ non tháng. Nếu nghi ngờ suy giáp, thì sàng lọc nên bao gồm đo thyroxine tự do (T4) cũng như TSH.

Điện giải và calci

Với những trẻ có nguy cơ bị rối loạn điện giải (ví ụ những trẻ có rối loạn chuyển hóa hoặc không dung nạp đủ chất lỏng), chúng tôi đề nghị đo nồng độ chất điện giải và calci.

Chì trong máu

Sàng lọc nhiễm độc chì phải được thực hiện ở những trẻ có yếu tố nguy cơ. Các khuyến cáo sàng lọc khác nhau theo cộng đồng. Những trẻ có nguy cơ đặc biệt bao gồm pica, khuyết tật phát triển tâm thần, hoặc tiền sử gia đình có anh chị em ruột ngộ độc chì, hoặc sống ở những ngôi nhà xây trước 1950 hoặc nhà gần đây được cải tạo.

Xét nghiệm hoạt động:

Được xem xét ở những bệnh nhân không có nguyên nhân thực thể rõ ràng của táo bón và không đáp ứng với điều trị táo bón chức năng.

– Chụp transit đại tràng.

Chỉ định:

Chụp transit đại tràng (ví dụ như chụp “Sitzmark”) không hữu ích trong việc đánh giá định kỳ trẻ bị táo bón. Chụp thường được thực hiện để đánh giá thêm ở những bệnh nhân chọn lọc có chẩn đoán không rõ ràng mặc dù đánh giá ban đầu kĩ lưỡng và thử nghiệm điều trị. Đặc biệt, hữu ích với các mục đích sau:

  • Phân biệt giữa són phân giữ lại (liên quan đến táo bón) và són phân không giữ lại.
  • Xác định những trẻ có chậm di chuyển thức ăn dư thừa qua đại tràng, một tình trạng được gọi là táo bón “chậm vận chuyển”. Táo bón chậm vận chuyển thường ở những trẻ khỏi phát triệu chứng trước 3 tuổi, triệu chứng nặng (đi ngoài ít hơn 1 lần / tuần), và không đáp ứng với phác đồ chuẩn là nhuận tràng và can thiệp hành vi.
  • Xác định những trẻ bị rối loạn đào thải phân, gợi ý tắc nghẽn đầu ra.

Kỹ thuật

Chụp transit đại tràng có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp. Một trong những kỹ thuật đơn giản nhất là cho trẻ nuốt 1 viên nang chứa 24 marker phóng xạ (viên Sitzmark) 1 lần/ngày trong 3 ngày. Xquang thường quy được chụp vào ngày thứ 4 (và đôi khi là ngày thứ 7), và phân tích số lượng và vị trí của các marker được giữ lại. Lý tưởng là cần phải giảm bớt tắc nghẽn phân, và nhưng thuốc nhuận tràng trong vài ngày trước khi chụp.

Thời gian transit đại tràng (CTT) sau đó có thể được tính theo công thức sau:

  • Với phim ngày thứ 4: CTT (giờ) = # marker còn lại x 1.0 (trong đó 1.0 = 72 giờ/72 marker được tiêu hóa).
  • Với phim ngày thứ 7: CTT (giờ) = # marker còn lại x 2.3 (trong đó 2.3 = 168 giờ/72 marker được tiêu hóa)

Nếu sử dụng các viên chứa 20 (chứ không phải 24) marker phóng xạ, thì sử dụng hằng số 1.2 cho tính toán ngày thứ 4, và 2.8 cho tính toán ngày thứ 7. Nếu không có viên nang chứa marker phóng xạ, thì cắt ống thông dạ dày phóng xạ số 10 thành những đoạn dài 1cm và sử dụng như marker, và điều chỉnh dựa theo số marker được tiêu hóa.

Giải thích

Những trẻ bị táo bón chức năng thường có CTT chậm hơn những trẻ không táo bón. Trong một nghiên cứu ở thiếu niên, CTT là 58.3 ở những trẻ bị táo bón và 30.2 giờ ở những trẻ không táo bón.

Thuật ngữ “táo bón vận chuyển chậm” được sử dụng để mô tả CTT chậm đặc biệt nghiêm trọng (>100 giờ). Táo bón chậm vận chuyển là tình trạng lâm sàng chứ không phải là một bệnh vì vẫn chưa rõ liệu nhóm trẻ này có khác biệt với những trẻ táo bón chức năng không. Một số trẻ bị táo bón vận chuyển chậm có rối loạn liên quan đến mất di động đại tràng, bao gồm loạn sản thần kinh ruột và loạn sản thần kinh ruột type B. Chúng tôi đề nghị giới thiệu sớm những bệnh nhân này đến chuyên gia tiêu hóa.

Chụp transit đại tràng cũng có thể giúp xác định những bệnh nhân tắc nghẽn đầu ra, biểu hiện bằng sự tích tụ các marker ở vùng trực tràng sigma. Bệnh nhân bị tắc nghẽn đầu ra có thể cần sinh thiết để đánh giá bệnh Hirschprung hoặc các rối loạn thần kinh cơ khác. Tuy nhiên, cũng có thể gặp ở những bệnh nhân bị tắc ruột và ở những bệnh nhân có đáp ứng bất thường của cơ sàn chậu khi đi ngoài.

Đo áp lực hậu môn trực tràng

Đo áp lực hậu môn trực tràng là đặt một cathter chứa các cảm biến áp suất vào trực tràng, qua đó cho phép đo chức năng thần kinh cơ của hậu môn trực tràng. Kỹ thuật bao gồm đo phản xạ ức chế hậu môn trực tràng (mất phản xạ trong bệnh Hirschprung), cảm giác của trực tràng, và áp lực. Test được thực hiện chủ yếu ở những trẻ bị táo bón nặng làm ảnh hưởng đến lối sống của trẻ, hoặc khi nghi ngờ co thắt cơ thắt trong hậu môn, hoặc bệnh Hirschprung.

hậu môn

Hình ảnh: hậu môn

Đo áp lực hậu môn trực tràng cũng có thể xác định những bệnh nhân bị loạn đồng vận đi ngoài, là một rối loạn chức năng đặc trưng bợi đào thải không hoàn toàn phân từ trực tràng do co cơ nghịch lý hoặc mất khả năng giãn các cơ sàn chậu khi đi ngoài. Thay đổi giả tạo do chuyển động của catheter (có thể bắt chước đáp ứng ức chế hậu môn trực tràng) gặp nhiều hơn ở trẻ dưới 6 tháng. Chẩn đoán xác định bệnh Hirschsprung dựa vào sinh thiết trực tràng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *