Các thuốc điều trị rụng tóc và kích thích mọc tóc bạn nên biết

Thuốc điều trị rụng tóc, hói đầu

Nhathuocngocanh.comRụng tóc là tình trạng phổ biến có thể gặp ở cả nam giới và nữ giới, là mối quan tâm, lo lắng của nhiều bạn trẻ. Rụng tóc quá nhiều trong một thời gian dài có thể là cảnh báo của một căn bệnh nguy hiểm đe dọa đến sức khỏe của chúng ta. Hãy cùng bài viết của chúng tôi làm rõ về các thuốc điều trị rụng tóc cũng như tác dụng của chúng.

Thuốc trị rụng tóc Minoxidil

Sơ lược về thuốc Minoxidil

Minoxidil xịt tại chỗ trị rụng tóc là một trong các phương pháp điều trị phổ biến nhất. Theo đó, thuốc có hiệu quả trong việc hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của tóc ở những người bị rụng tóc do nội tiết tố nam (androgenetic alopecia) bất kể giới tính. Tuy nhiên, minoxidil phải được sử dụng vô thời hạn để tiếp tục hỗ trợ các nang tóc hiện có và duy trì lượng tóc mọc lại.

Mặc dù tác dụng của minoxidil đối với những người bị rụng tóc từng mảng là không rõ ràng. Nhưng sự kết hợp giữa minoxidil đường uống và thuốc ức chế Janus Kinase (JAK), được gọi là minoxidil bổ trợ đường uống, được cho là làm tăng khả năng mọc lại tóc ở những bệnh nhân không điều trị bằng thuốc ức chế JAK đơn thuần.

Minoxidil không được sử dụng cho các dạng rụng tóc khác như: Tiền sử gia đình, rụng tóc đột ngột và/hoặc từng mảng, rụng tóc sau khi sinh hoặc rụng tóc do các nguyên nhân khác chưa rõ.

Thuốc thúc đẩy mọc tóc Minoxidil
Thuốc thúc đẩy mọc tóc Minoxidil

Cơ chế hoạt động

Ở dạng dung dịch và bọt khí, minoxidil có thể thúc đẩy sự tồn tại của tế bào nhú da người (DPC) hoặc tế bào tóc thông qua việc kích hoạt cả kinase điều hòa tín hiệu ngoại bào (ERK) và Akt, đồng thời ngăn chặn sự chết tế bào bằng cách tăng tỷ lệ BCl-2/ Bax.

Hơn nữa, minoxidil còn có thể kích thích sự phát triển của lông người bằng cách kéo dài quá trình anagen thông qua các hiệu ứng tăng sinh và chống apoptotic trên DPCs. Ngoài ra, tác dụng giãn mạch của thuốc cũng được cho là có thể cải thiện khả năng tồn tại của các tế bào tóc và nang tóc.

Tác dụng không mong muốn

Tác dụng phụ thường gặp nhất khi sử dụng minoxidil là kích ứng da đầu nhẹ, viêm da tiếp xúc dị ứng và mọc lông nhiều trên mặt.

Cách dùng

Bôi khoảng 1ml x 2 lần/ngày lên da đầu.

Lưu ý khi sử dụng

Khi sử dụng minoxidil để điều trị rụng tóc kiểu nam giới, bệnh nhân nên đảm bảo vùng da đầu bình thường và khỏe mạnh. Không được bôi minoxidil tại chỗ đối với da đầu đang bị viêm, nhiễm trùng, kích ứng hoặc đau.

Minoxidil dạng xịt chỉ được chỉ định để điều trị chứng rụng tóc do androgen và không được dùng cho các dạng rụng tóc khác, ví dụ khi không có tiền sử gia đình bị rụng tóc, rụng tóc đột ngột và/hoặc từng mảng, rụng tóc do sinh nở, hoặc rụng tóc do nguyên nhân khác chưa rõ.

Thuốc trị hói đầu Finasteride

Sơ lược về thuốc ức chế alpha-5-testosterone reductase Finasteride

Ngoài chỉ định chính trong điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, finasteride cũng được sử dụng để điều trị hói đầu ở nam giới (chứng rụng tóc nội tiết tố androgen). Tính đến năm 2017, finasteride và minoxidil là 2 loại thuốc duy nhất được FDA chấp thuận để sử dụng trong điều trị chứng rụng tóc ở nam giới tại Hoa Kỳ.

Việc điều trị bằng finasteride có thể làm chậm quá trình rụng tóc và cải thiện tỷ lệ rụng tóc khoảng 30% sau 6 tháng, hơn nữa hiệu quả vẫn tồn tại miễn là vẫn tiếp tục dùng thuốc. Bằng cách làm giảm nồng độ DHT ở da đầu, finasteride có thể duy trì hoặc làm tăng số lượng sợi tóc ở giai đoạn anagen thông qua ức chế và đôi khi đảo ngược sự thu nhỏ của nang tóc.

Finasteride có hiệu quả nhất trên vùng đỉnh đầu nhưng cũng có thể làm giảm rụng tóc ở tất cả các vùng trên da đầu. Tuy nhiên, hiệu quả giảm rụng tóc ở da dầu của finasteride thấp hơn so với dutasteride. Ngoài ra, finasteride cũng đã được thử nghiệm đối với chứng rụng tóc kiểu phụ nữ, nhưng kết quả không tốt hơn so với giả dược.

Thuốc uống Finasteride  điều trị rụng tóc
Thuốc uống Finasteride điều trị rụng tóc

Cơ chế hoạt động

Finasteride hoạt động bằng cách ức chế cạnh tranh và đặc hiệu đối với isoenzyme 5α-reductase loại II, một enzyme steroid nội bào liên kết nhân chủ yếu có mặt trong tế bào mô đệm tuyến tiền liệt. Theo đó, 5α-reductase có chức năng chuyển đổi androgen testosterone thành 5α-dihydrotestosterone (DHT), một chất chuyển hóa tích cực hơn. Người ta cho rằng, 5α-reductase loại I và 5α-reductase loại II chịu trách nhiệm sản xuất 1/3 và 2/3 lượng DHT lưu hành, tương ứng.

Ở nam giới bị rụng tóc do nội tiết tố androgen, cơ chế hoạt động của finasteride vẫn chưa được xác định đầy đủ nhưng thuốc có khả năng làm giảm nồng độ DHT ở da đầu xuống mức được tìm thấy, đồng thời giảm nồng độ DHT trong huyết thanh, tăng sự mọc lại của tóc và làm chậm quá trình rụng tóc.

Tác dụng không mong muốn

Các tác dụng phụ thường gặp khi sử dụng finasteride bao gồm rối loạn cương dương, rối loạn chức năng phóng tinh và mất ham muốn tình dục. Tuy nhiên, các tác dụng này có xu hướng biến mất sau khi ngừng sử dụng thuốc hoặc sử dụng lâu dài.

Cách dùng

Uống 1mg x 1 lần/ngày.

Lưu ý khi sử dụng

Finasteride có thể được sử dụng an toàn cho bệnh nhân cao tuổi hoặc bệnh nhân suy thận mà không có khuyến cáo hiệu chỉnh liều cụ thể.

Finasteride được chỉ định cho bệnh nhân nam giới và người ta khuyến cáo phụ nữ mang thai nam nên tránh tiếp xúc vì thuốc có thể dẫn đến sự phát triển bất thường ở cơ quan sinh dục ngoài của thai nhi nam.

Thuốc trị hói đầu ở nam giới Dutasteride
Thuốc trị hói đầu ở nam giới Dutasteride

Sơ lược về thuốc ức chế 5-alpha reductase Dutasteride

Dutasteride được chấp thuận để điều trị chứng rụng tóc nội tiết tố nam ở Hàn Quốc và Nhật Bản với liều lượng 0,5 mg mỗi ngày. Kết quả từ một số nghiên cứu cho thấy dutasteride có khả năng làm cho tóc mọc lại nhanh hơn ở nam giới và ở một mức độ lớn hơn so với liều lượng cao nhất của finasteride đã được phê duyệt.

Hiệu quả vượt trội của dutasteride so với finasteride đối với chỉ định này được cho là có liên quan đến việc ức chế 5α-reductase và làm giảm sản xuất DHT trong nang tóc một cách hoàn thiện hơn. Ngoài ra, dutasteride cũng được sử dụng ngoài nhãn để điều trị rụng tóc kiểu phụ nữ.

Cơ chế hoạt động

Dutasteride có khả năng ức chế chọn lọc cả đồng dạng loại I và loại II của steroid 5α-reductase, một loại enzyme nội bào có chức năng chuyển đổi testosterone thành 5α-dihydrotestosterone (DHT).

Thông qua cơ chế tạo thành một phức hợp ổn định đối với cả 5α-reductase loại I và loại II, dutasteride ức chế gần như hoàn toàn DHT. Hơn nữa, khi được đánh giá trong điều kiện in vitro và in vivo, sự phân ly của dutasteride ra khỏi phức hợp này được báo cáo là cực kỳ chậm.

So với khả năng làm giảm 70% nồng độ DHT trong huyết thanh của finasteride thì tác dụng của dutasteride lên đến hơn 90%. Tuy nhiên, hiệu quả của thuốc phụ thuộc vào liều, và hiệu quả tối đa được ghi nhận là trong vòng 1 – 2 tuần sau khi sử dụng lần đầu.

Tác dụng không mong muốn

Các tác dụng phụ bao gồm nhức đầu và khó chịu ở đường tiêu hóa. Các báo cáo riêng biệt về thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, mụn trứng cá và chóng mặt cũng tồn tại. Hơn nữa, có một nguy cơ nhỏ bị nữ hóa tuyến vú ở nam giới (khoảng 2,8%).

Rối loạn cương dương, mất ham muốn tình dục hoặc giảm lượng tinh dịch cũng được nhiều người cho là tác dụng phụ của thuốc ức chế 5α-reductase. Trong một số trường hợp, tình trạng này có thể kéo dài sau khi ngừng thuốc, dẫn đến giảm chất lượng cuộc sống.

Cách dùng

Uống 0,5 mg x 1 lần/ngày.

Lưu ý khi sử dụng

Dutasteride có thể được hấp thu qua da nên phụ nữ, trẻ em và trẻ vị thành niên cần tránh tiếp xúc với viên nang bị vỡ. Nếu vô tình tiếp xúc với viên nang vỡ, cần rửa sạch tay ngay với xà phòng và nước.

Để hạn chế khả năng phơi nhiễm với bào thai, bệnh nhân nam giới không nên hiến máu trong thời gian sử dụng dutasteride và ít nhất trong vòng 6 tháng sau khi ngừng thuốc.

Dutasteride có thể làm giảm số lượng tinh trùng, khối lượng tinh dịch cũng như khả năng di chuyển của tinh trùng.

Một số loại vitamin

Biotin

Biotin là một vitamin với hàm lượng nhỏ có nhiều trong thực phẩm. Biotin cũng được tổng hợp ở động vật bằng hệ vi sinh đường ruột. Các enzym có chứa biotin sẽ tham gia vào quá trình chuyển hóa carbohydrate, tổng hợp acid béo, sự trao đổi chất và dị hóa của leucine ở động vật có vú. Biotin bổ sung có thể giảm hoạt động của interleukin, interferon và giảm số lượng tế bào lympho.

Theo thời gian, sự trao đổi chất kém dẫn đến dinh dưỡng cho tóc bị hạn chế’ nên nang tóc kém phát triển. Thiếu bi-otin có thể dẫn đến phát ban da và rụng tóc. Một nghiên cứu được tiến hành tại đại học Harvard cho thẩy biotin là một trong những chất dinh dưỡng chính để giữ gìn sức khỏe, cấu trúc và chức năng cho tóc. Liều lượng khuyên cáo của d-biotin là 500-1000 mcg mỗi ngày.

Một số sản phẩm bổ sung Biotin
Một số sản phẩm bổ sung Biotin

Biotin là một loại vitamin cần thiết cho nhiều hoạt động của enzym trong cơ thể và là thành phần cần thiết cho sự trao đổi chất. Hoạt chất hoạt động như một thành phần phối hợp trong bốn loại enzym carboxylase khác nhau, giúp xúc tác các phản ứng hóa học trong quá trình chuyển hóa. Đây là một vitamin cần thiết có liên quan đến chức năng sinh lý quan trọng như tổng hợp acid béo, dị hóa acid amin và điều hòa glucose máu. Ngoài ra, nó còn có chức năng như một coenzym cho carboxylase ty thê’ ở chân tóc. Sự hấp thu biotin đòi hỏi việc giải phóng biotin từ thực phẩm và peptid liên kết biotin, được thực hiện bởi các enzym biotinidase (BTD). Các nghiên cứu trên biotin đã tiết lộ rằng nó cũng quan trọng cho các hoạt động của hệ thống thần kinh, cơ bắp và duy trì quá trình tăng trưởng tế bào, sự trao đổi chất và năng lượng. Nó có thể có ích trong duy trì lượng đường trong máu ổn định. Biotin thường được khuyến cáo như là vitamin bổ sung cần thiết trong chế độ ăn uống nhằm tăng cường sức mạnh cho lông, tóc và móng tay, mặc dù dữ liệu khoa học hỗ trợ kết quả này là chưa nhiểu. Tuy nhiên, biotin được tìm thầy trong nhiều mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cho tóc và da.

Dexpanthenol

Panthenol (hay còn được gọi là vitamin B5) có hai dạng đồng phân đối quang D và L. Song, chỉ có D-panthenol (hay còn được gọi là dexpanthenol) là có hoạt tính sinh học. Tuy nhiên cả hai dạng đổng phân đểu có hoạt tính giữ ẩm. Panthenol dùng trong mỹ phẩm có thể được sử dụng ở dạng đồng phân D (dexpanthenol) hoặc hỗn hợp các đổng phân (DL-panthenol).

Panthenol dễ dàng thâm nhập vào da và màng nhầy (bao gồm cả niêm mạc ruột), nơi nó nhanh chóng bị oxy hóa thành acid pantothenic. Acid pantothenic có tính hút ẩm rất cao, duy trì độ ẩm cho da và tóc.Panthenol liên kết với các sợi tóc dẽ dàng, do đó nó là một thành phần phổ biến của dầu gội đầu và sản phẩm dưỡng tóc (ở nồng độ 0,1-1%). Vitamin bám trên sợi tóc, phát huy tác dụng bôi trơn sợi trục và đem lại vẻ đẹp mượt mà cho mái tóc. Đây là một thành phần tự nhiên có trong da và tóc.

Khi sử dụng tại chỗ hoạt chẩt hoạt động như một loại kem dưỡng ẩm, cải thiện hydrat hóa lớp sừng, giảm sự mất nước, duy trì sự mềm mại và độ đàn hổi cho da. Hơn nữa, nó kích hoạt sự tăng sinh nguyên bào sợi, tăng tốc quá trình tái sinh biểu bì trong việc làm lành vết thương. Đói với da, hoạt chất này đã được chứng minh là có hiệu lực chống viêm trong thí nghiệm điều trị đỏ da do ánh sáng mặt trời. Loại vitamin này có nhiểu tác dụng có lợi trên những bệnh nhân điều trị sẹo hoặc điều trị cho vết thương bỏng và một số vần để da khác nhau. Hoạt chất này là một tác nhân làm dịu, điều hòa và tạo cảm giác thoải mái cho da. Panthenol là thành phần cần thiết cho các chức năng bình thường của biểu mô. Dexpanthenol khi áp dụng cho da và tóc nhanh chóng được chuyển thành dạng vitamin B5 đẩy nhanh tái tạo tế bào Nó giúp sửa chữa hư tổn và quá trình sừng hóa của da và tóc. Sự thiếu hụt vitamin B5 có thể dẫn đến sự đổi màu của tóc.

Ngoài ra, panthenol ảnh hưởng lớn và lâu dài đến tính linh hoạt, độ đàn hồi, độ bóng và giúp duy trì độ ẩm cho cả da và tóc. Hoạt chất là một phân tử nhỏ nên được hầp thu dễ dàng vào nang tóc và sợi trục. Quá trình thâm nhập xảy ra thông qua sự thẩm thấu. Khi thấm sâu vào sợi tóc, pan-thenol giúp cải thiện độ đàn hổi và tính linh động của sợi trục. Do khả năng giữ ẩm của vitamin B5, tóc tránh được tình trạng khô và giòn gãy. Panthenol còn giúp tăng đường kính sợi tóc và giúp sửa chữa các sợi bị hư hỏng bởi hóa chất, dâu gội,…

Các thuốc điều trị bệnh lý gây rụng tóc khác

Đối với chứng rụng tóc ở phụ nữ

Spironolacton có tác dụng kháng androgen ở cả hai giới theo một cơ chế phức tạp và liên quan tới nhiều tác dụng của thuốc. Theo đó, spironolacton làm giảm sinh tổng hợp testosterone bằng cách ức chế hoạt tính của steroid 17α-hydroxylase, ức chế cạnh tranh với dihydrotestosterone gắn vào protein thụ thể bào chất và làm giảm tác dụng androgen ở các mô đích. Hơn nữa, thuốc cũng làm tăng nồng độ estradiol huyết tương nên cũng góp phần vào tác dụng kháng androgen.

Do đó, spironolacton và thuốc tránh thai (liều thấp) có thể được sử dụng để điều trị chứng rụng tóc ở phụ nữ. Các nghiên cứu có bằng chứng chất lượng thấp cũng hỗ trợ việc sử dụng nó cho chỉ định này. Mặc dù có vẻ hiệu quả, tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp rụng tóc ở nữ giới đều phụ thuộc vào nội tiết tố androgen.

Spironolacton thường được sử dụng trong điều trị chứng rậm lông ở phụ nữ và được coi là thuốc kháng androgen đầu tay cho chỉ định này
Spironolacton thường được sử dụng trong điều trị chứng rậm lông ở phụ nữ và được coi là thuốc kháng androgen đầu tay cho chỉ định này

Đối với chứng rụng tóc từng mảng

Nguyên nhân của tình trạng này được cho là một bệnh tự miễn dịch mà trong đó, hệ thống miễn dịch tấn công các nang tóc. Do đó, các loại thuốc chống viêm hoặc điều hòa miễn dịch có thể có hiệu quả trong trường hợp này, bao gồm:

  • Corticosteroid dùng tại chỗ, tiêm trong da hoặc dùng toàn thân (trong trường hợp nghiêm trọng).
  • Minoxidil tại chỗ.
  • Anthralin tại chỗ.
  • Thuốc điều hoà miễn dịch đường uống (diphenylcyclopropenone hoặc squaric acid dibutylester) hoặc methotrexate.

Đối với rụng tóc do viêm da đầu

Nguyên nhân gây viêm da đầu là nhiễm trùng do nấm, thường là nấm Trichophyton và Microsporum. Vì vậy, các thuốc kháng nấm đường uống như ketoconazole có thể hiệu quả trong trường hợp này.

Đối với rụng tóc có sẹo

Việc điều trị rụng tóc có sẹo như rụng tóc từng đám ly tâm (CCCA) hoặc viêm mô tế bào da đầu tốt nhất bằng tetracycline đường uống kết hợp với một corticosteroid mạnh tại chỗ.

Điều trị viêm nang lông dạng sẹo lồi nặng hoặc mãn tính cũng bằng cách tương tự hoặc bằng triamcinolone tiêm trong da. Nếu mức độ nhẹ, có thể dùng retinoids tại chỗ, kháng sinh tại chỗ và/hoặc benzoyl peroxide tại chỗ.

Đối với lichen phẳng, chứng rụng tóc từng mảng trước trán và các tổn thương lupus

Điều trị bằng các loại thuốc:

  • Thuốc chống sốt rét đường uống.
  • Corticosteroid dùng tại chỗ hoặc tiêm trong da.
  • Retinoids tại chỗ hoặc đường uống.
  • Tacrolimus tại chỗ hoặc thuốc ức chế miễn dịch đường uống.

Đối với rối loạn giật tóc Trichotillomania

Đây là bệnh lý liên quan đến rối loạn tâm thần kinh, khó điều trị, cần phải điều chỉnh hành vi hoặc sử dụng thuốc chống trầm cảm như clomipramine hoặc chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc – SSRI (fluoxetine, fluvoxamine, sertraline, paroxetine, citalopram).

Tài liệu tham khảo

  1. Patel, M., Harrison, S., & Sinclair, R. (2013). Drugs and hair loss. Dermatologic clinics31(1), 67-73.
  2. Price, V. H. (1999). Treatment of hair loss. New England Journal of Medicine341(13), 964-973.
  3. Piraccini, B. M., Iorizzo, M., Rech, G., & Tosti, A. (2006). Drug-induced hair disorders. Current drug safety1(3), 301-305.
  4. Mercke, Y., Sheng, H., Khan, T., & Lippmann, S. (2000). Hair loss in psychopharmacology. Annals of clinical psychiatry12(1), 35-42.
Trả lời (Quy định duyệt bình luận)

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

The maximum upload file size: 1 MB. You can upload: image. Drop file here