các chỉ số về máu- nhà thuốc ngọc anh chuyên mua bán thuốc

Enter your keyword

Các chỉ số về máu
5 (100%) 1 vote
  1. Glucose

Mức glucose bình thường trong máu lúc đói 70-110 mg/dl : SI – 3,9- 6.1 mmol/1.

Glucose là nguồn năng lượng chủ yếu cua não, cơ. Glucose huyết luôn hằng định do cơ chế điều hoà thần kinh – nội tiết. Các hormon điều hòa glucose huyết được phân thành hai nhóm đối lập; một bên là insulin làm giảm glucosc. Một bên là những hormon Ịạm tăng glucosc huyết (adrenalin, glucagon. glucocorticoid, somatostatin). Hay gặp nhất là tăng đường huyết do đái tháo đường.

Nồng độ glucose huyết lúc đói cao hơn 140mg/dL (7.7 mmol/L) dược coi là bệnh lý. Đường huyết cao tới 290-310 mg/dL (16-17 mmol) có nguy cơ gây hôn mê đái tháo đường. Tuy nhiên không thể nêu lên một giới hạn cụ thể vì trị số này thay đổi khá nhiều với từng ca bệnh.

Khi đường huyết dưới 45mg/dt (2.5mmol/L) cũng rất nguy hiếm. Nguyên nhân thường liên quan đến nhầm lẫn dùng quá liều insulin trong điều trị đai tháo đường.

Ngoài đái tháo đường, tăng đường huyết còn do một số bệnh nội tiết khác: hội chứng Cushing (cường năng vỏ thượng thận), tăngnăng tuyến giáp hoặc do thuốc: glucocorticoid. Thuốc lợi tiểu thiazid. Các chất chẹn_p, phenytoin. Hạ đường huyết còn do một số nguyên nhàn như  suy tạng, suy gan, thiểu năng tuyến yên, thiểu năng tuyến giáp, thiểu năng vỏ thượng thận…

2. Acid uric

Mức acid uric bình thường trong máu là  SI = 120-420 mmol/L)

Acid uiric là sản phẩm thoái hoá cuối cùng của nhân purin và được đào thải chủ vếu qua đường nước tiểu.

Tăng acid uric trong máu có thể do:

Tăng sản xuất (phá huỷ nhiều nucleoprotein, ăn chế độ giàu protein) hoặc do đào thải kém (viêm thận). Huyết thanh thường bão hoà acid uric (ở 7mg/dL), nếu vượt quá ngưỡng này thì natri urat tinh thê có thể tích đọng trong cơ. Đó là biểu hiện của bệnh Gút.

Bệnh gút

Những tác nhân có tác dụng độc tế bào có thể làm tăng acid uric huyết:

Đó là(các chất kháng chuyển hoá, một số thuốc điều trị ung thư như methotrexat, vincristin, prednison, azathioprin). Các tác nhân làm giảm bài tiết acid uric ở ống thận cũng làm tăng acid uric huyết (thuốc lợi tiểu thiazid, furosemid, acid ethacrinic).

3. Protein huyết thanh
–  Mức protein huyết thanh bình thường là (6,0 – 8,0g/dL; SL=60-80 g/L).

  • Protein huvết thanh phân tích bằng điện di chia thành albumin và globulin:
  • Albumin là protein chính chiếm 60% protein toàn phần, được tổng hợp bởi gan. Albumin giữ vai trò quan trọng duy trì áp suất keo và trong vận chuyển nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ. Nhiều thuốc không tan trong nước được gắn nhiều với albumin huvết tương, ví dụ phenytoin, salicylat, phenylbutazon, warfarin, acid valproic và một số sulfonamid. Vì thuốc ở dạng tự do là dạng có hoạt tính, nên khi nồng độ albumin thay đổi có thể ảnh hường nhiều đến sự phân bố và tác dụng dược lý của thuốc.
  • Globulin (2,3-3,5 g/dL; Sl-23-35 g/L) có thể tách thành nhiều phân nhóm nhỏ: globulin al, a2, Ị3 và Globulin Ỵ còn có thể phân thành nhiều globulin miền dịch khác nhau (IgG. IgA, IgM, IgD và IgE). Việc phân tách các globulin giúp ích trong chấn đoán nhiều bệnh miễn dịch.
  • Protein toàn phần có thể tăng giảm trong nhiều trạng thái bệnh lý:
  • Trường hợp hạ (chủ yếu là albumin) gặp trong suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hoá, ung thư, suy gan, xơ gan. Đó là do thiếu hụt trong tống hợp. Protein huyết hạ còn do tăng đào thải: hội chứng thận hư, mất protein theo nước tiếu nhiều, bỏng rộp. mất qua da…
  • Tăng protein huyết gặp trong trường hợp cô đặc máu, do cơ thể mất nước và một số bệnh rối loạn globulin huyết: đa u tuỷ (bệnh Kahler), bệnh macroglobulìn huyết ..

copy ghi nguồn: https://nhathuocngocanh.com/

link bài viết: https://nhathuocngocanh.com/cac-chi-so-ve-mau/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *